Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Dưới chiêu bài dân chủ, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền luận điệu sai trái, chống phá chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định về chính trị tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trên Bloger của “Luatkhoa. org” Vũ Hoàng Anh có bài viết: “Bàn về Dân chủ”, cho rằng dưới sự cai trị của độc tài cộng sản Việt Nam trở thành xã hội phi dân chủ; kỳ thị các dân tộc thiểu số. Thực tế, Vũ Hoàng Anh đang cố tình không hiểu và xuyên tạc tình hình dân chủ và chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa dân là chủ và người dân làm chủ. Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở.

Thực tiễn chứng minh rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mối, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đốì với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rôì nội bộ, làm mất ổn định chính trị, xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, của nhân dân các dân tộc không phân biệt là dân tộc đa số hay thiểu số. Vì lợi ích trực tiếp của nhân dân các dân tộc thiểu số, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm chính trị cả hệ thống chính trị, toàn xã hội. Vì vậy, phải tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc.

Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2023 xếp Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022. Sự tiến bộ của dân chủ xã hội chủ nghĩa, cùng chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được quốc tế công nhận và đánh giá cao chính là chân lý, thực tế mà các thế lực thù địch không thể xuyên tạc hay hoài nghi./.

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – BẬC ĐẠI TRÍ, ĐẠI NHÂN, ĐẠI DŨNG

 

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH – BẬC ĐẠI TRÍ, ĐẠI NHÂN, ĐẠI DŨNG


Trên trang “Baoquocdan” Nguyễn Thị Cỏ May tiếp tục chiêu trò cũ, đả kích, đánh tráo khái niệm, xuyên tạc tác phẩm “Ngục Trung Nhật ký” – “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dẫn lời học giả Lê Hữu Mục, May cho rằng tập thơ này ra đời dưới sự dàn dựng công phu của  ban biên soạn thuộc hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đánh bóng tài năng cho Hồ Chí Minh.

Lý lẽ mà bài viết đưa ra là: Lúc đó Bác chưa đủ trình độ tiếng Hán để làm thơ tiếng Hán theo thể thơ Đường và quan điểm trong bài thơ mang tính chung chung, không thể hiện rõ quan điểm giai cấp vô sản. Từ đó Lê Hữu Mục khẳng định tác giả cuốn Ngục trung nhật kí chắc chắn là một người Hán (tức “già Lý”) vốn trung thành với quốc gia, đất nước Trung Hoa, chứ không phải Hồ Chí Minh. Song, Nguyễn Thị Cỏ May thiếu hiểu biết hay cố tình bỏ qua, bởi trong Ngục Trung Nhật ký còn một bài thơ: Bệnh trọng (Ốm nặng), hai câu đầu viết: Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt/Nội thương Việt địa cựu sơn hà. Với hai câu trên trong bài thơ, đã chứng minh: Chẳng lẽ ông già Lý người Hán đang ở tù tại Hồng Kông lại ngồi thương cho nước Việt; chẳng lẽ một người Hán (“già Lý”, vốn là một tướng cướp) lại làm đại biểu cho nhân dân Việt Nam. Và không biết rằng động cơ thúc đẩy Lê Hữu Mục xuyên tạc “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật kí” đã đi ngược lại phiên họp thứ 24 tại Paris năm 1987, Đại hội đồng UNESCO thông qua Quyết định về kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990. Quyết định này đã tôn vinh “Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Do đó, xuyên tạc, bịa đặt nhưng thiếu tri thức, thiếu hiểu biết, chỉ biết dùng lời lẽ của kẻ thù hận để đánh lừa thiên hạ, không những không đạt được mục đích lấy đen đổi trắng, mà càng chứng tỏ Nguyễn Thị Cỏ May và đồng bọn chỉ là những tay bồi bút, phản động không hơn không kém.

Tiếp tục xuyên tạc về phẩm chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dẫn lời của Trần Đức Thảo, Nguyễn Thị Cỏ May cho rằng: Bác là người hám danh, cuồng danh. Nhận định này đã chứng minh chính May không những là kẻ thiếu hiểu biết, mà còn lú lẫn và mù quáng. Bởi lẽ, chưa cần đề cập đến công lao trời biển mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang lại cho nhân dân, dân tộc Việt Nam, mà cần chỉ qua tập thơ Nhật ký trong tù đã chứng minh Người là một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.

Cái đại trí của Người là những nhận thức đúng đắn về cuộc sống nhân sinh, về thời cuộc, về đường lối chiến lược, chiến thuật của cách mạng. Trong hoàn cảnh lao tù, con người mất tự do, Người luôn hướng về tự do, nghĩ về tự do. Người đáng giá cao tự do: “Tự do tiên khách trên trời” (Quá trưa). Bác luôn cho rằng cuộc đời có gian nan vất vả, những sẽ có ngày vui: “Hết khổ là vui vốn lẽ đời”; “Hết mưa là nắng ửng lên thôi”(Trời hửng)… Đại trí của Người thể hiện: “Thà chết chẳng cam nô lệ mãi/Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền” (Việt Nam có bạo động). Cái đại trí còn thể hiện cái nhìn sâu sắc về đời sống nhân sinh, những hoài cảm và những suy tưởng của Bác về sự vật, sự việc trong nhiều bài thơ, câu thơ khác. Cái đại trí làm nên đặc điểm nhân cách cao cả con người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là bậc đại nhân được thể hiện rất rõ qua tấm lòng thiết tha yêu Tổ quốc, yêu thương, trân trọng con người, lòng yêu thiên nhiên, tình cảm quốc tế trong sáng của Người. Trước hết là tình yêu Tổ quốc, là tình cảm thường trực ở Người, nhiều đêm nhớ nước Người không ngủ được: “Một canh, hai canh, lại ba canh/ Trằn trọc băn khăn giấc chẳng thành/ Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh, (Ngủ không được). Nỗi nhớ đồng bào đồng chí canh cánh bên lòng: “Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng/Tin tức bên nhà bữa bữa trông”, (Tức cảnh).

Bác là con người đại dũng tập trung ở khí phách kiên cường, tinh thần vượt qua gian lao thử thách, niềm tin, lòng lạc quan cách mạng ở Người. Khí phách ấy, được nói lên ngay lời mở đầu của tập thơ: “Thân thể ở trong lao/Tinh thần ở ngoài lao/Muốn nên sự nghiệp lớn/tinh thần càng phải cao”. Trong hoàn cảnh lao tù, trước sự hành hạ, cưỡng chế, tra xét Người không hề sợ hãi, nao núng mà lại tự động viên: “Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”, (Tự khuyên mình). Đọc Nhật ký trong tù chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy trái tim của Người toả ánh sáng chói ngời trong hoàn cảnh tối tăm. Người bị giam hãm, đoạ đầy, trói buộc, xiềng xích, bị nghi ngờ, bêu diễu, cấm đoán, mất hết cả tự do. Tâm hồn Người theo thời gian vẫn cất lên, bất chấp sự cùng khổ về vật chất cũng như tinh thần, coi thường cả sự hiểm nguy, dũng mãnh vượt lên gian lao thử thách, ngạo nghễ để chiến thắng, thể hiện phong thái ung dung, niềm tin tưởng lạc quan son sắt, tình cảm giao hoà với thiên nhiên; đặc biệt là tình cảm thắm thiết đối với đồng bào, nhân dân Việt Nam.

Có thể khẳng định, luận điệu dẫn lời Lê Hữu Mạc, Trần Đức Thảo của Nguyễn Thị Cỏ May không nhằm mục đích đóng góp cho khoa học, cho chân lý mà chỉ cho thấy những thiên kiến chính trị, phục vụ cho ý đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, vu khống như thế không những làm xấu hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, mà còn cho thấy cái đại trí, đại nhân, đại dũng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Do vậy, những dòng “bồi bút” của kẻ cố tình xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ vấp phải sự chỉ trích, lên án mạnh mẽ của các nhà khoa học và dư luận xã hội và cộng đồng quốc tế. Hồ Chí Minh là tác giả của Nhật ký trong tù, đó là sự thực hiển nhiên. Bọn chúng có cố tình phủ nhận, lái góc này sang góc kia, dùng ý này xỏ ý khác, thì càng chứng minh chúng chính là kẻ thiếu hiểu biết, lú lẫn, phản quốc, hại nước, hại dân./.

Phê phán quan điểm của Đỗ Kim Thêm “Bàn về khái niệm Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa”

 

Phê phán quan điểm của Đỗ Kim Thêm “Bàn về khái niệm Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa”


Mục đích của sa thải là quyết định cuối cùng của doanh nghiệp với nhân viên trong trường hợp nhân viên đó làm việc không hiệu quả, vi phạm chính sách công ty, hoặc cũng có thể nguyên nhân từ phía doanh nghiệp khi ban lãnh đạo quyết định cắt giảm chi phí và thu hẹp bộ máy nhân sự, hoặc khó khăn về tài chính. Bởi chìa khóa thành công của một công ty hay một doanh nghiệp là không ngừng đổi mới, sáng tạo. Do vậy, việc sa thải nhân viên có năng lực hạn chế, không đổi mới, sáng tạo là việc làm bình thường không phải là “thay máu công ty hay thay văn hóa của công ty” như Nguyễn Huy Vũ đăng trên trang “Viettan”.

Như chúng ta đã biết, xét về góc độ pháp lý và quản lý doanh nghiệp, kỷ luật lao động là một yêu cầu khách quan và tất yếu để xây dựng kỷ cương, nề nếp trong công việc. Áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật đối với người lao động là quyền mà pháp luật lao động cho phép người sử dụng lao động trong quá trình điều hành, quản lý doanh nghiệp, trong đó, sa thải là hình thức xử lý kỷ luật nghiêm khắc nhất, gây ra hậu quả nặng nề nhất đối với người lao động. Sa thải nhân viên là điều mà không công ty, doanh nghiệp nào mong muốn, bởi đây không chỉ là sự tổn thất về nhân sự, mà còn ảnh hưởng đến uy tín và tài chính của công ty.

Đặc biệt, trong giai đoạn kinh tế nhạy cảm khi nhiều tập đoàn công nghệ của thung lũng Silicon đang phải lèo lái qua một giai đoạn tăng trưởng khá yếu, khiến nhiều tập đoàn buộc phải sa thải hàng nghìn nhân viên. Mặc dù làn sóng sa thải nhân viên công nghệ đã nhen nhóm suốt từ nhiều năm nay nhất là khi đại dịch COVID-19 bùng phát.

Do đó, việc xác định giá trị và mục tiêu của công ty sẽ giúp cho nhân viên hiểu rõ hơn về những gì công ty đang muốn đạt được và giúp họ đóng góp vào mục tiêu đó. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường làm việc tích cực và động lực. Một văn hoá doanh nghiệp lành mạnh là cực kỳ quan trọng trong thời kỳ các công ty đang phải đương đầu với nhiều thách thức. Việc tạo ra một môi trường làm việc tích cực và động lực sẽ giúp giữ chân nhân viên quan trọng và giúp công ty vượt qua những khó khăn trong thời gian tới. Việc sa thải nhân viên cũ kém chất lượng, không có nghĩa là thay đổi văn hóa của công ty, hay nói một cách rộng hơn là thay đổi văn hóa của một dân tộc.

Trong bài viết của Nguyễn Huy Vũ còn cho rằng “chính quyền Việt Nam yếu chứ không phải mạnh, không có khả năng bảo đảm việc thi hành chính sách giáo dục như mong đợi và làm cho văn hóa Việt Nam truyền thống đang dần biết mất”, đó là những nhận định phiến diện, không đúng.

Như chúng ta đã biết, văn hóa là sản phẩm của lịch sử và là phương thức tồn tại của một dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam luôn mang trong mình những yếu tố lịch sử, truyền thống, tâm lý gắn với các biểu tượng, phong tục, tập quán của một cộng đồng dân tộc. Cùng với việc giáo dục những phẩm chất mới của con người và văn hóa hiện đại, phải đặc biệt quan tâm giáo dục và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc, coi đó là giá đỡ tinh thần cho việc hiện đại hóa văn hóa, chăm lo xây dựng con người Việt Nam “Giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính”.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng còn nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hóa”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh”.

Như vậy, có thể khẳng định rằng những quan điểm của Nguyễn Huy Vũ đăng trên Viettan.org là hoàn toàn phiến diện và sai sự thật. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân yêu nước Việt Nam cần thống nhất cao về nhận thức, luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh, vạch rõ âm mưu đen tối, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN “LÊN TIẾNG VỀ QUYỀN TỰ DO INTERNET” ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN “LÊN TIẾNG VỀ QUYỀN TỰ DO INTERNET” ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng tại Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng một xã hội minh bạch và công bằng nhưng với tâm địa đen tối, các đối tượng chống đối Đảng, nhân dân Việt Nam núp sau các tổ chức xã hội độc lập và công dân tự do đã đăng trên facebook: “Đảng Việt tân” với tiêu đề “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet”. Nội dung của bài viết đưa ra những nhận định xuyên tạc, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam và xuyên tạc công cuộc phòng chống tham nhũng, bằng những nhận định sai lệch rằng: “tranh giành quyền lực”, “cướp bóc của quan chức”… bóp méo, bôi đen việc thực thi pháp luật, tạo cớ kích động “công dân sử dụng Internet, các blogger, các facebooker, các chủ trang nhân quyền liên kết thành mạng lưới”,… tiến tới việc thúc đẩy toàn dân Việt Nam đứng lên giải thể chế độ… Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do nên cần được vạch trần và bác bỏ.

1. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tiếp cận và sử dụng Internet và các phương tiện thông tin đại chúng.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ những năm gần đây, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với cuộc sống hàng ngày của hầu hết người Việt Nam. Việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí: Hiện nay, về cơ bản pháp luật trong nước đã tương thích với pháp luật quốc tế, đầy đủ và đồng bộ, từ Hiến pháp, luật, đến nghị định, tiêu biểu là một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Ngoài ra, việc triển khai thi hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng được tiến hành một cách nghiêm túc. Đến năm 2022, Việt Nam có 127 cơ quan báo; 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến 2023, lượng người dùng Internet tại Việt Nam đạt hơn 72 triệu người (73%) và hiện là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới; số thuê bao điện thoại di động sử dụng smartphone 94,2 triệu, riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm tốt các quyền đó của con người và được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài …”; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…”.

2. Không nước nào dung túng cho hoạt động lợi dụng Internet để chống phá đất nước, nhân dân mình.

Tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nhằm tránh bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của quốc gia, cộng đồng xã hội và các cá nhân. Vì thế, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới cũng ban hành các điều luật để kiểm soát những thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội, qua đó hạn chế sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại.

Việc các thế lực thù địch, phản động và một số đối tượng bất mãn lợi dụng mạng Internet tiến hành chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, từng bước tạo bất ổn trong xã hội tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh là hoàn toàn xác đáng.

Như vậy, có thể khẳng định “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet” là bài viết đưa ra là những nhận định, đánh giá sai sự thật và hết sức phi lý về tự do Internet ở Việt Nam, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam Thủ đoạn này đã cho thấy dã tâm nham hiểm, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các tổ chức xã hội độc lập và các công dân tự do. Mọi người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ những thông tin xấu độc, sai sự thật về tự do Internet được phát tán trên mạng xã hội hiện nay./.

Nhân dân Việt Nam đã được hưởng tự do, dân chủ ngay sau khi giành được chính quyền

 

Nhân dân Việt Nam đã được hưởng tự do, dân chủ ngay sau khi giành được chính quyền

    Ngày 19/8, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng dòng trạng thái: “78 năm Cách mạng tháng Tám: Sớm muộn đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do dân chủ thực sự” cho người dân”. Thông tin này chứng tỏ não trạng của họ có vấn đề nên vẫn đòi phải thực hiện quyền tự do, dân chủ thực sự. Bởi vì:

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một thời đại mới ở Việt Nam, thời đại nhân dân Việt Nam thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Thật vậy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sáng ngày 03/9/1945 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định một số nội dung cần làm ngay. Trong đó, có việc tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân; tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết. Đến bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ về quyền con người, quyền công dân. Cụ thể, tại Điều 10, Hiến pháp 1946 đã quy định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Đây chính là cơ sở để các bản Hiến pháp sau này cũng như các văn bản pháp luật khác kế thừa, phát triển, bổ sung và dần hoàn thiện như ngày nay.

          Đi đôi với hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quy định về quyền tự do, dân chủ của công dân, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực, bảo đảm thực thi đầy đủ, tốt nhất các quyền của công dân trong thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Đời sống của nhân dân từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột đã trở thành chủ nhân của đất nước, được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại; được pháp luật bảo vệ quyền về chỗ ở hợp pháp, về bí mật đời tư; mọi người dân được tạo điều kiện phát triển toàn diện, được khẳng định, thể hiện mình, đóng góp cho quê hương, đất nước. Chính số liệu các cơ quan báo chí, các tổ chức tôn giáo,… được Nhà nước cấp phép hoạt động và số lượng các tín đồ tôn giáo trên cả nước hiện nay chính là những con số biết nói để khẳng định, trả lời rằng nhân dân ta đã thực sự được tự do, dân chủ hay chưa.

Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã phát triển toàn diện về mọi mặt, thu được những thành tựu to lớn, nhất là sau hơn 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặc dù, trước mắt vẫn còn những khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song có thể khẳng định rằng: sau 78 năm giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước thu được rất nhiều kết quả, thành tựu to lớn, làm cho đất nước đổi thay, ngày càng phát triển, hội nhập, sánh vai với các nước trên thế giới. Các tầng lớp nhân dân đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước.

Xin nêu một số dẫn chứng: nếu năm 1989, quy mô nền kinh tế của đất nước chỉ là 6,3 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, v.v.

Thử hỏi các vị, nếu Việt Nam không có tự do, dân chủ thì đất nước có đạt được thành tựu trên không? Và đời sống của nhân dân có được thế không? Những điều mà các vị nêu chỉ là sự suy đoán không căn cứ, bất chấp sự thật. Chẳng qua, các vị chỉ cố tình “mượn cớ” dân chủ để thực hiện âm mưu thâm độc chống phá Việt Nam. Việc làm của các vị chẳng lừa được ai./.

Không sợ sóng gió trên biển lớn

 

Không sợ sóng gió trên biển lớn

 Ngày 20/7 vừa qua, dựa vào thông tin cổ phiếu của hãng xe  VinFast (mã VFS) bị rớt giá trên thị trường chứng khoán Mỹ, trên Facebook Việt Tân có hàng loạt bài hô hào, dự đoán cổ phiếu VFS rơi xuống dưới 10 USD, tức mất giá hơn 30% khiến cộng đồng mạng có nhiều bình luận phê phán khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam khi vươn ra thị trường quốc tế.

Trước hết, “vươn ra biển lớn” là chủ trương của Đảng, Nhà nước và là khát vọng của doanh nghiệp Việt Nam. Chúng ta muốn phát triển thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì phải đẩy mạnh cải cách và mở cửa nền kinh tế, giúp Việt Nam tham gia sân chơi, chuỗi sản xuất toàn cầu, tiếp thu văn minh nhân loại, nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần của Nhân dân. Trong chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị đó, mỗi quốc gia là một mắt xích; chúng ta cũng vậy; tuy nhiên tỷ trọng và thứ hạng trong chuỗi giá trị là rất khác nhau; luôn cạnh tranh gay gắt để thăng lên những thứ hạng trên nhằm mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia, dân tộc. Để nâng cao thứ hạng đó, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần vốn, khoa học công nghệ, nhân lực chất lượng cao và kinh nghiệm quản trị. Việt Nam phát triển sau, phải đi tắt, đón đầu; tập trung học hỏi, tiếp thu từ các nước phát triển, nhất là nước Mỹ. Chúng ta cần liên doanh, liên kết với các đối tác có thế mạnh về vốn, kinh nghiệm quản trị và công nghệ bằng các biện pháp: Nhà nước cho nước ngoài đầu tư, kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thông qua kênh huy động vốn là thị trường chứng khoán quốc tế. Thực hiện chủ trương, khát vọng đó, các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn FPT, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Vingroup,... đã từng bước vươn ra toàn cầu; và hiện nay, Tập đoàn Vingroup là doanh nghiệp đầu tiên phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ.

Hai là, giá cổ phiếu tăng, giảm là chuyện xảy ra thường ngày, phụ thuộc quy luật cung cầu của thị trường; tương tự như giá gạo, thịt, rau, đồ dùng ngoài chợ. Điều quan trọng vẫn là giá trị thực, giá trị nội tại của doanh nghiệp; là lòng tin của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp. Công ty Vinfast chuyên sản xuất xe điện là đi đúng xu hướng của thế giới, đáp ứng đúng nhu cầu sử dụng năng lượng sạch của người tiêu dùng hiện nay. Tuy mới thành lập năm 2017, nhưng hãng xe VinFast đã đạt được tốc độ phát triển nhanh; cho ra đời nhiều mẫu xe, sở hữu nhiều điểm mạnh về chất lượng, chính sách, giá, dịch vụ và thiết kế độc đáo,... làm hài lòng người tiêu dùng Việt Nam và quốc tế. Hiện nay, đang cạnh tranh hiệu quả trên đất Mỹ; tạo nên doanh thu, lợi nhuận tăng trưởng tốt; nên giá trị của doanh nghiệp ngày càng tăng và giá cổ phiếu sau khi hết chu kỳ giảm sẽ tăng trở lại, phản ánh đúng vị thế, giá trị doanh nghiệp.

Niêm yết cổ phiếu thành công trên thị trường chứng khoán Mỹ là chỉ dấu vô cùng quan trọng về độ tin cậy của cộng đồng nhà đầu tư, người tiêu dùng quốc tế đối với tiềm năng phát triển của một doanh nghiệp; không cần phải quan tâm nhiều đến giá lên, xuống của cổ phiếu./.         

            

Tự do, dân chủ của nhân dân là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám – sự thực không thể xuyên tạc

 

Tự do, dân chủ của nhân dân là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám – sự thực không thể xuyên tạc

- Cứ đến dịp nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 thì các thế lực thù địch, phản động lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận thành quả của Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945; một trong những luận điệu chúng đưa ra là: Cách mạng Tháng Tám năm 1954 không đem lại dân chủ, tự do thực sự cho người dân. Đây là luận điệu hết sức hết sức lố bịch. Bởi, chúng đã phủ nhận những giá trị nhân văn, cao cả, đích thực mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mang lại cho đất nước, dân tộc và nhân dân ta đó là đem lại dân chủ thực sự cho người dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến và ách đô hộ của thực dân, phát xít, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - chính thể dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc; đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ; nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Từ đây, nhân dân ta trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước.

Ngay trong Tuyên ngôn thoái vị (ngày 30/8/1945) của vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam, đã phải thốt lên rằng: “… làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”. Đây là cảm nhận chân thực nhất của vua Bảo Đại lúc đó. Bởi, Ông cũng như nhiều vị vua của triều đình nhà Nguyễn đã phải nếm trải thân phận “Vua là tượng gỗ, dân làm thân trâu” của một nước nô lệ, lầm than, cơ cực, mất tự do, không có tên trên bản đồ thế giới. Và, trong Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Mặc dù quyền tự do đó chưa được trọn vẹn như chúng ta mong muốn, nhưng đó là nền tự do thực sự mà cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng bền bỉ đấu tranh mới giành được. Điều đáng nói là, chính kẻ thực dân trước đây đã cướp nền độc lập, tự do của đất nước ta, nhân dân ta, biến nước ta thành thuộc địa, nhân dân ta thành nô lệ của chúng, nay đã phải công nhận quyền tự do, độc lập ấy. Đó là lẽ phải không ai chối cãi được !

Từ đó đến nay, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các bản Hiến pháp, văn bản pháp luật, mà được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân được đặt trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thực hiện dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân chủ ở cơ sở theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng luật pháp của Nhà nước; được hiến định trong Hiến pháp. Không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia, bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, trên lĩnh vực quyền con người, Việt Nam đã sớm gia nhập, ký kết nhiều công ước quốc tế về quyền con người. Cho đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người. Đồng thời, Việt Nam đã nội luật hóa các công ước này vào hệ thống pháp luật quốc gia. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại nền tự do có thật và thật sự tự do. Nền tự do đó gắn liền với nền độc lập dân tộc và là kết quả tất yếu của độc lập dân tộc. Đó quyết không phải là nền tự do giả hiệu. Ngày nay, những giá trị lịch sử của nó vẫn tiếp tiếp tục tỏa sáng trong dòng chảy lịch sử của dân tộc và thời đại. Không một mưu đồ đen tối nào, không một thế lực nào có thể phủ nhận được giá trị trường tồn, phủ nhận được nền độc lập, nền dân chủ và tự do mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại cho dân tộc và nhân dân Việt Nam./.

 

Việt Nam luôn tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật

 

Việt Nam luôn tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật

   Ngày 23/8, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài: “Việt Nam “quản chặt” các tín đồ tôn giáo độc lập”. Trong bài viết, họ cho rằng: “Ở Việt Nam, những người muốn sinh hoạt tôn giáo một cách độc lập luôn đối mặt nguy cơ bị chính quyền ngăn cản, sách nhiễu. Nhiều tín đồ tôn giáo độc lập là người bản địa cho biết họ thậm chí bị đàn áp ngày càng nặng nề hơn”.

          Đây lại là một luận điệu xuyên tạc trắng trợn những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và thực tiễn sinh động về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới. Đảng, Nhà nước luôn bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt, những ngày lễ trọng của các tôn giáo, như: lễ Phật đản, lễ Vu lan của Phật giáo; Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành; Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, Lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài; lễ hội Katê của đồng bào Chăm; tháng chay Ramadan của người Hồi giáo,… được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự.

Việc công nhận tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật. Sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) đi vào cuộc sống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công nhận 01 tổ chức tôn giáo (Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam), cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 03 tổ chức (Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam; Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam; Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam). Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trên phạm vi cả nước được tạo điều kiện thuận lợi với gần 4.000 điểm, nhóm được chấp thuận. Các tổ chức tôn giáo hoàn toàn chủ động trong việc củng cố tổ chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành theo Hiến chương, Điều lệ và quy định của pháp luật.

Hằng năm, số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, hiện cả nước có hơn 6.500 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; hơn 16.780 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc. Cùng với đó, Nhà nước còn bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện tham gia vào đời sống chính trị xã hội, tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở và tích cực tham gia các hội, đoàn thể khác, như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, v.v. Đây là những minh chứng thực tiễn sinh động, chân thực, trái ngược với luận điệu quy chụp, xuyên tạc, lố bịch, rằng: “Những người muốn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam luôn đối mặt nguy cơ bị chính quyền ngăn cản, sách nhiễu... bị đàn áp ngày càng nặng nề hơn”.

Còn luận điệu mà RFA gọi là “tín đồ tôn giáo độc lập”, thực chất là tập hợp các phần tử cực đoan trong các tôn giáo, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị, các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài,... lợi dụng vỏ bọc tôn giáo, để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước dưới các hình thức: kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ nội bộ các tôn giáo, phá hoại sự ổn định, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; kích động các hoạt động chống phá gây phức tạp về an ninh, trật tự; móc nối với các tổ chức phản động bên ngoài nhằm mục hóa, chính trị hóa những vấn đề trong nước,... nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận quốc tế từ đó gây sức ép với chính quyền để đáp ứng các yêu cầu của các tổ chức, hội nhóm này. Vì vậy, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm mọi tổ chức lợi dụng tôn giáo, đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo luật định. Đó là lẽ đương nhiên./.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

Không thể phủ nhận hạnh phúc của nhân dân Việt Nam

 

Không thể phủ nhận hạnh phúc của nhân dân Việt Nam


Hạnh phúc là giá trị bao trùm của nhân loại, mọi quốc gia, dân tộc đều lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Ở Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử, các triều đại đều lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy, mỗi bước tiến trong quá trình xây dựng hạnh phúc của nhân dân Việt Nam các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá, phủ nhận.

1. Nhận diện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận hạnh phúc của nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động

Thứ nhất, trước hiện thực sinh động về hạnh phúc của nhân dân Việt Nam được thế giới thừa nhận, đánh giá cao thì các thế lực thù địch, phản động lại cố tình xuyên tạc, phủ nhận. Với luận điệu hết sức trắng trợn, chúng cho rằng, dân chủ Việt Nam là dân chủ giả hiệu, không mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Nhân dân Việt Nam không được hưởng quyền dân chủ và phát huy dân chủ. Chúng giở trò bài bác, kích động, cổ súy cho trào lưu dân túy và tự do vô chính phủ để phá hoại, phủ nhận hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

Thứ hai, chúng cố tình đổi trắng, thay đen khi cho rằng sự bất hạnh của nhân dân Việt Nam là do chế độ xã hội chủ nghĩa, do cán bộ, đảng viên tham nhũng, bòn rút của dân mà trở nên giàu có; cũng vì thế mà nhân dân ngày càng nghèo khó, phân tầng xã hội sâu sắc, khoảng cách giàu nghèo cách biệt.

Thứ ba, chúng đã không hiểu và cố tình không hiểu về hiện thực hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đó là những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo được cả thế giới ngưỡng mộ cũng như niềm hạnh phúc hiện có của nhân dân Việt Nam mà nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới đang mơ ước, nhân dân được hưởng giá trị của hạnh phúc trong độc lập – tự do không lệ thuộc và bị chi phối bởi các thế lực bên ngoài. Đất nước Việt Nam đang ngày càng giàu mạnh, tươi đẹp hơn, trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn của nhân dân trên toàn thế giới ngay cả trong thời kỳ hậu Covid-19.

Thứ tư, nguy hại hơn là chúng còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận những giá trị hạnh phúc quý báu của nhân dân Việt Nam đó là Tổ quốc độc lập, nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc. Cố tình gieo rắc, cổ súy cho lối sống thực dụng, xa hoa, trụy lạc, xa rời lý tưởng cách mạng và những giá trị nhân văn, nhân bản của con người cùng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận xã hội nhằm phá hoại, phủ nhận cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Thứ năm, chúng cho rằng thể chế chính trị Việt Nam hiện nay là không phù hợp chuẩn mực quốc tế, chế độ một đảng lãnh đạo trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, quốc gia nào một đảng cầm quyền thì quốc gia đó không có dân chủ, nhân dân nơi đó không được hưởng tự do, hạnh phúc. Từ đó phủ nhận thành quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận hiện thực cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

2. Hạnh phúc của nhân dân là giá trị vĩnh hằng, mục tiêu vươn tới của dân tộc Việt Nam, là kết quả công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, không thế lực nào có thể phủ nhận

Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi từng mong ước: nơi thôn cùng, xóm vắng không có tiếng than thở của người già, không có tiếng khóc dỗi hờn của trẻ con. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành; được ước mơ và khát vọng vươn tới địa vị làm chủ vì quốc gia dân giàu, nước mạnh.

Thời kỳ đổi mới để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân, Đảng, Nhà nước tập trung đổi mới cơ chế, chính sách, phát huy cao độ tinh thần cống hiến vì đất nước của nhân dân. Tạo mọi điều kiện, cơ hội và động lực để phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu, là mục tiêu của sự phát triển. Tăng cường bảo đảm các điều kiện vật chất, tinh thần hướng tới “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa các giá trị truyền thống với giá trị hiện đại”(1) dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực kinh tế – xã hội, môi trường sinh thái, đời sống văn hóa tinh thần văn minh, lành mạnh.

Đảng đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong từng chiến lược phát triển đất nước. Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn lực cho công tác lãnh đạo, quản lý, các lĩnh vực then chốt, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo. Làm tốt công tác tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; ứng dụng, phát triển khoa học – công nghệ… “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2).

Tập trung đầu tư các nguồn lực, khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sự đồng thuận xã hội, kết hợp hài hòa ý Đảng – lòng dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tạo dựng hạnh phúc lâu dài, bền vững cho cả dân tộc. Hiện hữu trên thực tế là hạnh phúc của nhân dân ta ngày càng được bảo đảm trên cơ sở tăng cường phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong mọi lĩnh vực đời sống, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đáp ứng tốt hơn nhu cầu hạnh phúc của nhân dân.

3. Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận bảo vệ hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là mệnh lệnh từ trí tuệ, trái tim Việt Nam, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới

Giá trị Độc lập – Tự do – Hạnh phúc của nhân dân Việt Nam ngày càng được khẳng định và trở thành chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngày nay, với định hướng đúng, khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ “lập nên thành tựu phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta”(3).

Hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là hiện thực, không thể phủ nhận, không phải tự nhiên mà có, đó là cái giá hàng ngàn năm lịch sử hào hùng của dân tộc. Là sự hy sinh, cống hiến của Đảng, là kết tinh trí tuệ, xương máu của cán bộ, đảng viên và của các thế hệ người Việt Nam; vừa là xương máu, vừa là hoa hồng, là bản sắc hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Thành tựu xây đắp hạnh phúc của nhân dân Việt Nam là kết quả nỗ lực, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không có thế lực nào có thể bài bác, phủ nhận.

Do đó, trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động đang ngày đêm phá hoại cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải luôn nêu cao cảnh giác, phải đấu tranh kiên quyết và bền bỉ để phê phán, loại bỏ. Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ hạnh phúc của nhân dân Việt Nam còn rất lâu dài và ngày càng phức tạp. Cuộc đấu tranh này không chỉ đơn thuần là hành động lý trí mà đó chính là mệnh lệnh từ trí tuệ, trái tim của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam./.