Tuổi trẻ thanh niên chung tay đoàn kết phòng ngừa,đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch,
chống phá Đảng, Nhà nước, quyền và lợi ích của nhân dân.
- Ngày 15/02, trang facebook Việt Tân trích nguồn của Mạc Văn Trang đăng “Tuyên bố 45 năm cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược Trung Quốc (17 tháng 2 năm 1979)”, trong “Tuyên bố” này, Mạc Văn Trang mượn danh “Các tổ chức xã hội dân sự”, cho rằng: “lịch sử phải được đánh giá đúng và không lãng quên... báo chí truyền hình thông tin rộng rãi trong ngoài nước... tổ chức công khai Lễ tưởng niệm đồng bào chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược Trung Quốc. Sau đó theo thông lệ 5 năm một lần làm Lễ tưởng niệm”(!). Đây là thủ đoạn quen thuộc mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn thường lợi dụng mỗi dịp kỷ niệm cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (17/2) hằng năm, nhằm nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống Đảng, Nhà nước ta né tránh, lãng quên Cuộc chiến tranh này, từ đó, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc.
Cần khẳng định rõ: không có chuyện Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân ta né tránh, lãng quên cuộc chiến tranh Bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 02/1979 hào hùng của dân tộc, không quan tâm đến công tác chính sách đối với những Người có công trong Cuộc chiến tranh này. Minh chứng là, vào tháng 02 hằng năm, nhân kỷ niệm Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Trung ương, đến địa phương đều đăng tải nhiều bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh, cựu chiến binh, nhà nghiên cứu,... nhằm tái hiện lịch sử và tuyên truyền, nêu bật tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Người có công trong Cuộc chiến tranh này,... đồng thời,khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ với Trung Quốc.
Năm 2014, trong Hội nghị bàn về Quy chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Chính phủ, khi một số đại biểu đề cập tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đó đã trả lời: “Đảng, Nhà nước không bao giờ quên công lao của đồng bào chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến chống xâm lược ngày 17/2/1979”. Trước đó, ngày 09/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, quy định chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Tiếp đó, ngày 03/4/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 23/2012/NĐ-CP, quy định về chế độ hưu trí, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí đối với đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 có từ đủ 20 năm trở lên phục vụ trong Quân đội, Công an, Cơ yếu đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, v.v.
Cùng với đó, để tưởng nhớ công lao các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, nhiều địa phương, nhất là các địa phương ở các tỉnh biên giới phía Bắc đã phối hợp với các ban, ngành Trung ương, đoàn thể địa phương xây đài tưởng niệm, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; lấy tên một số liệt sĩ để đặt tên đường phố, trường học, v.v. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 hào hùng của dân tộc ta còn được phản ánh sinh động trong nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc,... như: tiểu thuyết “Đêm tháng Hai” của nhà văn Chu Lai và tiểu thuyết “Mình và họ” của nhà văn Nguyễn Bình Phương, tác phẩm “Xác phàm” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, bộ phim “Đất mẹ” của đạo diễn Hải Ninh và “Thị xã trong tầm tay” của đạo diễn Đặng Nhật Minh,... các bài hát “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ Phạm Tuyên, “Lời tạm biệt lúc lên đường” của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” của nhạc sĩ Hồng Đăng, “Những đôi mắt mang hình viên đạn” của nhạc sĩ Trần Tiến và “Hát về anh” của nhạc sĩ Thế Hiển,... các tác phẩm này đều được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi trong và ngoài nước.
Thực tế trên là minh chứng khẳng định: Đảng, Nhà nước, Quân đội, Nhân dân ta không hề né tránh, hay lãng quên cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 hào hùng của dân tộc, và cũng không có chuyện Đảng, Nhà nước, Quân đội, Nhân dân ta không quan tâm đến công tác chính sách đối với những Người có công trong Cuộc chiến tranh này. Vì thế, chúng ta cần cảnh giác với âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị khi chúng lợi dụng Cuộc chiến tranh này để tán phát những bài viết, tài liệu để tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch nhằm xuyên tạc, kích động sự chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Và,cái gọi là: “Tuyên bố 45 năm cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược Trung Quốc (17 tháng 2 năm 1979)” của Mạc Văn Trang cũng chẳng lừa bịp được ai, phải bị lên án và đấu tranh, bác bỏ./.
Cảnh giác với chiêu trò kích động của Chân Trời Mới Media
Tre Việt - Ngày 17/02, trang facebook Chân Trời Mới Media, đăng stuts: “Bao giờ Việt Nam ban hành Nghị định hướng dẫn thành lập các tổ chức đại diện độc lập tại doanh nghiệp? Có lẽ những tiếng nói phản biện cần phải liên tục cất lên báo động cho dư luận quốc tế và quốc nội, tạo áp lực để Việt Nam nghiêm chỉnh thi hành những cam kết đã ký”. Đây là luận điệu rất thâm hiểm nhằm kích động đòi cho phépcái gọi là “công đoàn độc lập” sớm được thành lập công khai, hợp pháp.
Như chúng ta biết, thực hiện các cam kết quốc tế trong các Hiệp định thương mại tự do, các công ước quốc tế về tiêu chuẩn lao động mà Việt Nam là thành viên và để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức đại diện người lao động, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XIV) đã thông qua Bộ Luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực ngày 01/01/2021). Bộ Luật này đã có 01 chương riêng (Chương 13) về “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở”, trong đó có quy định rõ: tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua đối thoại, thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Thành phần, gồm: công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp chỉ có cấp cơ sở - cấp doanh nghiệp, không có hệ thống các cấp như tổ chức công đoàn. Với quy định trên, có thể thấy: tổ chức công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có sự khác nhau về bản chất và mục đích. Trong đó, công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động,… đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp. Còn tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động.
Quy định của pháp luật là vậy, thế nhưng lợi dụng vào đó, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn ráo riết tuyên truyền, lôi kéo công nhân và người lao động nhằm tập hợp lực lượng để cho ra đời cái gọi là tổ chức “công đoàn độc lập” ở Việt Nam. Dưới lớp vỏ bọc này, họ đã đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập”, rêu rao những luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước ta; thậm chí xúi giục, kích động các hành vi làm bất ổn chính trị, xã hội tại Việt Nam. Họ cố tình đưa ra chiêu bài thành lập cái gọi là “công đoàn độc lập” hay “nghiệp đoàn độc lập Việt Nam” để dụ dỗ, lôi kéo công nhân và người lao động Việt Nam, hình thành tổ chức mà bản chất không không hề bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân và người lao động, mà chỉ lấy đó là vỏ bọc cho mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Từng bước đi đến hình thành một tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và “thay thế” tổ chức công đoàn ở nước ta, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, kích động công nhân, người lao động tham gia các cuộc bãi công, đình công, biểu tình trái pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước ta, tiến tới thực hiện mưu đồ thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.
Việc hình thành tổ chức mang danh “công đoàn độc lập”, “đại diện người lao động” nhưng không đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động với mục đích chống đối Đảng, Nhà nước thì không thể là một tổ chức chính danh, hợp pháp. Vì không là chính danh, nên chúng không dám công khai ra mắt mà chỉ ngấm ngầm kích động làm rối loạn xã hội, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, làm bất ổn đời sống nhân dân. Những gì chúng rêu rao chỉ là những luận điệu mị dân, không bao giờ vì quyền lợi của người lao động. Vì vậy, “công đoàn độc lập”, hay “nghiệp đoàn độc lập” sẽ không thể thay thế vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam - một tổ chức mà xuyên xuốt 95 năm qua luôn đồng hành cùng giai cấp công nhân, người lao động Việt Nam; đã và đang thực hiện tốt các chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Đồng thời, có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật; thường xuyên tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Do vậy, mỗi người dân Việt Nam, nhất là giai cấp công nhân và người lao động trong các doanh nghiệp cần nâng cao cảnh giác trước luận điệu cổ súy, kích động của Chân Trời Mới Media, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hết sức bình tĩnh, không mắc mưu, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật; đồng thời, nghiêm khắc lên án, kiên quyết đấu tranh bác bỏ/.
Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên
- Như thành thông lệ, cứ đến mùa tuyển quân, các thế lực thù địch lại dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, chúng rêu rao rằng: “Thanh niên hiện nay đang tìm mọi cách trốn nghĩa vụ quân sự”, “đi bộ đội không phải bảo vệ Tổ quốc”, “không có tương lai”(!) Đây là những luận điệu phản động, phiến diện, thâm độc của bọn chúng hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng cách mạng. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ hiểu sai chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Quân đội về thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên.
Thực tiễn cho thấy, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã có hàng triệu thanh niên tình nguyện nhập ngũ. Nhiều lá đơn được viết bằng máu, thể hiện ý chí, trách nhiệm, quyết tâm của lớp lớp thanh niên đối với đất nước. Tiếp nối truyền thống đó, thanh niên ngày nay luôn nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc; cảm thấy vinh dự khi trở thành người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Hằng năm, trên mọi miền Tổ quốc có hàng chục nghìn thanh niên nô nức lên đường nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, việc làm này đã trở thành nét đẹp văn hóa, trách nhiệm, nguyện vọng chính đáng của bao thế hệ thanh niên Việt Nam.
Trong năm 2024, các địa phương trong cả nước, hầu hết thanh niên nhập ngũ đều bày tỏ niềm tự hào và hăng hái lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tỷ lệ thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ ngày càng cao; rất nhiều thanh niên là đảng viên, công chức, có trình độ đại học, cao đẳng cũng viết đơn xung phong nhập ngũ; có gia đình có 02 người con tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bởi, môi trường Quân đội giúp thanh niên được rèn luyện sức khỏe, thể lực dẻo dai; tác phong chững chạc, có trách nhiệm cao với công việc, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; giao tiếp, ứng xử đúng mực, có văn hóa; rèn giũa, tôi luyện để thanh niên phát huy hết nội lực, khả năng của bản thân, sẵn sàng đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách lớn trong công việc và cuộc sống.
Trong không khí của ngày hội tòng quân ở các địa phương trong cả nước rất sôi nổi, phấn khởi; tuy nhiên, trên thực tế, do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, mạng xã hội, một bộ phận nhỏ thanh niên bị ảnh hưởng bởi lối sống cá nhân, hưởng thụ, thực dụng nên sợ vất vả, ngại rèn luyện và có những so đo, tính toán thiệt hơn, thậm chí tìm mọi cách để trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Đây chỉ là hiện tượng cá biệt và cũng đã có trường hợp bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Để phát hiện và khắc phục những hiện tượng đơn lẻ này, đòi hỏi cấp ủy chính quyền địa phương, tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp, nhất là gia đình, dòng họ cần thường xuyên giáo dục con cháu về truyền thống dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, làm tốt công tác tư tưởng, động viên thanh niên yên tâm lên đường nhập ngũ; tăng cường tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự. Các cơ sở giáo dục, đào tạo, cần thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh; tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm giáo dục, nâng cao kỹ năng sống cho học sinh, xây dựng cho thế hệ trẻ có động cơ, thái độ và tinh thần trách nhiệm với xã hội, với đất nước, tạo “sức đề kháng” tốt khi tham gia và sử dụng các trang mạng xã hội. Các cơ quan chức năng thường xuyên quản lý và phối hợp chặt chẽ với nhà cung cấp dịch vụ tiến hành các giải pháp kỹ thuật, kịp thời ngăn chặn không để những quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên không gian mạng tác động vào các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, mỗi thanh niên cần phải tự giáo dục, rèn luyện, nâng cao nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc; chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng, tỉnh táo khi tiếp nhận, chia sẻ thông tin để không vi phạm pháp luật và không mắc mưu các thế lực thù địch. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tiếp thêm ý chí, nghị lực để mỗi thanh niên hăng hái tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng, cao quý nhất cảu mỗi công dân Việt Nam khi đến tuổi trưởng thành. Lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, mà cao còn là quyền lợi, niềm vinh dự, tự hào của mỗi thanh niên, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mọi thủ đoạn xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên, xúi giục thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự của các đối tượng xấu, thù địch là sai trái, đi ngược với lợi ích quốc gia, dân tộc, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.
Lên án hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Thực hiện chỉ đạo của Tổng hội Tin lành Lutheran Mông Mỹ, vừa qua, Ban Cộng đoàn Mông Tây Bắc đã nhóm họp và thống nhất những hoạt động, như: thúc đẩy thành lập “Hội thánh Liên hữu H’mông”; xác định tôn chỉ, mục đích hoạt động theo sắc thái riêng của người Mông, lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng, phục vụ lợi ích “chính đáng” của cộng đồng Tin Lành Mông, lấy “đấu tranh chính trị” làm phương châm hoạt động; tập hợp, đào tạo đội ngũ chức sắc Tin Lành Mông trung thành với đường hướng hoạt động; tuyển chọn, đào tạo lực lượng nòng cốt từ các tín đồ Tin Lành Mông, v.v. Cần khẳng định rõ: cái gọi là: tổ chức Tin Lành Mông – một tổ chức tôn giáo bất hợp pháp, chưa được Nhà nước Việt Nam cấp phép. Vì vậy,việc làm trên của Tổng hội Tin lành Lutheran Mông Mỹ thực chất là hoạt động nhằm chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Bởi vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao, xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là phương thức, sức mạnh, mục tiêu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Từ đó, đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nhờ đó, tạo nên sức mạnh to lớn để nhân dân ta, dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dù chúng mạnh hơn ta gấp nhiều lần trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đã khẳng định chân lý ấy.
Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận về vấn đề này, như: Nghị quyết số 23-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Kết luận số 57-KL/TW ngày 03/11/2009 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Cùng với đó, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống, văn hóa, xã hội cho đồng bào các dân tộc. Nhờ đó, đã xây dựng, không ngừng củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Trong diễn văn khai mạc Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Mới đây nhất, ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, để tiếp tục khẳng định rằng: đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành thuyền thống, là chân lý của dân tộc, đất nước Việt Nam.
Vậy nhưng, các thế lực thù địch, phần tử phản động sống lưu vong ở nước ngoài luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo,... tìm mọi cách kích động, lôi kéo, tài trợ tài chính, hà hơi, tiếp sức để một số phần tử tiêu cực, nhẹ dạ, cả tin ở trong nước ra tăng các hoạt động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Trong đó, hoạt động của Tổng hội Tin lành Lutheran Mông Mỹ, của Ban Cộng đoàn Mông Tây Bắc vừa qua là minh chứng điển hình. Vì thế, những mưu đồ, hành động sai trái này cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.
“Kiến nghị thư” – một trò hề của các nhà “dân chủ”
- Ngày 27/02, trang facebook Việt Tân, đăng bài: “Kiến nghị thư yêu cầu trả tự do cho bà Nguyễn Thúy Hạnh để chữa bệnh” của Gia Minh rêu rao: “ba tổ chức xã hội dân sự và 37 các nhân ký tên và gửi Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng bản kiến nghị yêu cầu trả tự do cho bà Nguyễn Thuý Hạnh chữa bệnh ung thư” và “việc giam giữ bà Nguyễn Thúy Hạnh quá lâu trong tình trạng bệnh tật như này là trái pháp luật và vô nhân đạo. Chính quyền phải trả tự do cho bà Hạnh để được đi chữa bệnh một cách thuận lợi”.
Là người “có máu mặt trong làng đấu tranh dân chủ”, chân dung đối tượng Nguyễn Thúy Hạnh không còn là cái tên quá xa lạ. Cùng với các “liền anh liền chị trong làng dân chủ” như Nguyễn Quang A, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thụy,… Nguyễn Thúy Hạnh đã lợi dụng mọi sự kiện, vấn đề xã hội, ra sức kích động những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết gây rối, biểu tình. Đồng thời, tích cực viết và đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đưa các thông tin sai lệch về tình hình tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trong nước, v.v. Nguyễn Thúy Hạnh lập ra quỹ “tù nhân lương tâm” có tên gọi “quỹ 50K” không đúng quy định của pháp luật và duy trì hoạt động nhằm tài trợ, cổ vũ những kẻ bất đồng chính kiến, chống đối Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Điều đáng lưu ý là Hạnh đã sử dụng tiền của “quỹ 50k” để mua các tài liệu, cuốn sách xuất bản chui ở nước ngoài do Phạm Đoan Trang viết rồi tặng cho các con nhang, đệ tử của phong trào “dân chủ” ở trong nước. Nhiều người nghi ngờ và đặt câu hỏi, có dấu hiệu các tổ chức khủng bố ở nước ngoài như Việt Tân lợi dụng, để gửi tiền tài trợ vào “quỹ 50K” một cách tinh vi, tài trợ, thúc đẩy các đối tượng chuyên hoạt động dân chủ bất hợp pháp ở trong nước quấy phá. Với những hành vi sai trái đó, ngày 07/4/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội đã thi hành Lệnh bắt tạm giam, Lệnh khám xét đối với Nguyễn Thúy Hạnh về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 – Bộ luật Hình sự năm 2015.
Việc các nhà “dân chủ” đưa ra cái gọi là “kiến nghị thư” đòi Việt Nam phải “trả tự do ngay lập tức” cho Nguyễn Thúy Hạnh là phi lý và lố bịch. Cần khẳng định rõ: Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; do đó, mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì phải bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.
Mặt khác, các chế độ, chính cho phạm nhân luôn được các trại giam thực hiện đầy đủ, bảo đảm đúng quy định của pháp luật; các biện pháp giáo dục phạm nhân luôn đề cao tính nhân văn, thượng tôn pháp luật. Đặc biệt là, về chế độ chăm sóc y tế, trong quá trình chấp hành án phạt tù, phạm nhân được khám bệnh định kỳ, trường hợp bị bệnh nặng hoặc bị thương tích vượt quá khả năng điều trị thì Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân quyết định trích xuất đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên là tuyến huyện hoặc tuyến tỉnh để điều trị, trường hợp vượt quá khả năng điều trị của bệnh viện tuyến huyện, tỉnh thì theo chỉ định của Thủ trưởng cơ sở khám, chữa bệnh đó, Thủ trưởng cơ sở giam giữ phạm nhân báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự xem xét, quyết định việc điều trị tiếp theo, đồng thời phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện của phạm nhân đó biết để phối hợp, chăm sóc, điều trị. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng cho phạm nhân điều trị tại cơ sở khám, chữa bệnh ngoài cơ sở giam giữ phạm nhân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định.Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2023, các trại giam thuộc Bộ Công an đã khám, phát thuốc thông thường cho hơn 3.200.000 lượt phạm nhân; điều trị tại bệnh xá hơn 43.300 lượt phạm nhân; khám, điều trị tại bệnh viện 1.900 lượt phạm nhân, trại viên, học sinh; thường xuyên tổ chức phun khử khuẩn phòng, chống các loại dịch bệnh đảm bảo cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp, phòng, chống dịch bệnh theo mùa, v.v.
Sự thật là vậy, thế nhưng các nhà “dân chủ” lại diễn trò “khóc thuê” cho đối tượng Nguyễn Thúy Hạnh, hòng tạo áp lực đòi trả tự do cho kẻ vi phạm pháp luật, chống phá đất nước là “trò hề” hết sức lố bịch. Hành vi này, cần phải bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.
Việt Nam xứng đáng để tái ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
- Lợi dụng sáng 26/02, tại phiên họp cấp cao Khóa 55 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn kêu gọi các nước ủng hộ Việt Nam tái ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 – 2028, ngày 29/02, trang facebook Việt Tân đăng bài “Việt Nam lại tái ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc” rêu rao “Việt Nam cố đấm ăn xôi”. Cùng với đó, Việt Tân còn xuyên tạc rằng: “Việt Nam đang cố gắng giữ ghế tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc như một kiểu chứng minh đất nước Việt Nam có nhân quyền, dân chủ và tôn trọng tiếng nói của người dân”.
Cần khẳng định, tiếp nối những đóng góp tích cực, cam kết mạnh mẽ và sự sẵn sàng đóng góp của Việt Nam, việc Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tuyên bố và kêu gọi các nước ủng hộ Việt Nam tái ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 thể hiện đường lối, định hướng phát triển hết sức đúng đắn của Việt Nam. Đó còn thể hiện ở chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc hoạch định những chính sách phát triển về quyền con người, lấy con người làm trung tâm. Với sự điều hành hết sức quyết liệt, đạt hiệu quả cao của Chính phủ Việt Nam cùng những nỗ lực, ý thức của người dân trong việc chấp hành, làm theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Việt Nam đã kêu gọi, vận động người dân ủng hộ, tuân thủ chính sách; đồng thời, đem lại quyền lợi cho người dân, bảo đảm quyền chính đáng của cộng đồng. Trong năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, với tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống 3%; đồng thời, tiếp tục dành trung bình hằng năm khoảng 3% GDP cho bảo đảm an sinh xã hội. Năm 2023, Việt Nam xuất khẩu trên 8 triệu tấn gạo, qua đó góp phần đảm bảo an ninh lương thực và quyền lương thực cho hàng triệu người ở nhiều khu vực trên thế giới. Các ưu tiên của Việt Nam khi tham gia Hội đồng Nhân quyền, trong đó có bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chuyển đổi số và quyền con người. Tại Khóa 56 (tháng 6/2024) tới đây, Việt Nam sẽ đề xuất nghị quyết hằng năm về bảo đảm quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Việt Nam đã nộp Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV, trong đó đã thực hiện hoàn toàn gần 90% số khuyến nghị nhận được năm 2019.
Trên bình diện quốc tế, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc từ khi cơ quan này được thành lập. Trong đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và nửa đầu nhiệm kỳ 2023 - 2025, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, như: tham gia Nhóm Nòng cốt tại Hội đồng Nhân quyền về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được Hội đồng Nhân quyền thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em,…). Việt Nam cũng tham gia đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền trong giai đoạn này, tập trung vào các lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, xóa bỏ các biện pháp cấm vận đơn phương ảnh hưởng đến thụ hưởng quyền con người, quyền của nông dân, vấn đề dân chủ hóa đời sống quốc tế và tăng cường đoàn kết quốc tế. Cùng với đó, Việt Nam còn có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của Hội đồng Nhân quyền trên những vấn đề còn khác biệt, như: về quyền sức khoẻ sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử, v.v. Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ Hội đồng Nhân quyền giữa các nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, nhân đạo; gắn với việc phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo đảm Hội đồng Nhân quyền hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can thiệp công việc nội bộ các nước.
Việc Việt Nam tái ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 là thể hiện rõ mong muốn trong việc đóng góp vào các nỗ lực chung của thế giới, nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đồng thời, cũng khẳng định rằng: Việt Nam hoàn toàn xứng đáng để tái ứng cử vào tổ chức này, không có chuyện “Việt Nam cố đấm ăn xôi” như luận điệu xuyên tạc của Việt Tân./.
- Lợi dụng sự kiện ngày 23/02/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp của Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, ngày 27/02, kênh tiếng Việt, Đài RFA đăng bài: ““Thế tập” và các “Sứ quân” trước Đại hội 14 của Đảng”; trong đó, đưa ra nhiều thông tin suy diễn, xuyên tạc, như: Đại hội 14 sẽ được tổ chức vào tháng 01/2026, là một loại “tên lửa Tomahawk đánh chặn”; nếu Tổng Bí thư áp dụng công thức “7 lên 8 xuống” của Trung Quốc,... hay cuộc vận động đổi “Thẻ căn cước” của Đại tướng Tô Lâm, v.v.
Trước hết, cần thấy rằng công tác chuẩn bị cho các hoạt động, sự kiện chính trị lớn, trọng đại là việc làm hoàn toàn bình thường ở bất kỳ quốc gia, cơ quan, tổ chức nào. Và đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng không ngoại lệ. Sau khi đất nước thống nhất (tháng 4/1975) thì đến tháng 12/1976, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ tư. Kể từ đó, cứ định kỳ sau mỗi 05 năm theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta lại tổ chức Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc. Như vậy, Đại hội XIII của Đảng đã được tổ chức vào tháng 01/2021, thì theo kế hoạch đến tháng 01/2026, sẽ diễn ra Đại hội XIV là đúng theo quy định của Điều lệ Đảng. Thế mà Việt Tân lại cố tình đơm đặt. Thực là nực cười!
Thứ hai, để Đại hội XIV của Đảng diễn ra theo đúng kế hoạch và thành công tốt đẹp thì công tác chuẩn bị có vai trò rất quan trọng nên mọi công tác chuẩn bị càng làm sớm và chuẩn bị kỹ càng tốt. Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), Trung ương đã thảo luận và thống nhất quyết định thành lập 05 tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, bao gồm: Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Kinh tế - Xã hội, Tiểu ban Nhân sự, Tiểu ban Điều lệ Đảng và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội. Chính vì vậy, với cương vị là Trưởng Tiểu ban Văn kiện, ngày 23/02/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì phiên họp đầu tiên của tiểu ban này và có bài phát biểu chỉ đạo, định hướng nội dung, công việc cần tập trung triển khai thực hiện trong thời gian tới là rất cần thiết. Sắp tới, các tiểu ban khác cũng sẽ họp để tiến hành các bước chuẩn bị, bảo đảm đúng kế hoạch. Bởi, các văn kiện của đại hội, công tác nhân sự, chuẩn bị Điều lệ Đảng,... thể hiện sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, quyết định đến chất lượng, sự thành công của đại hội.
Thứ ba, “đến hẹn lại lên”, cứ vào dịp trước, trong và sau khi diễn ra các sự kiện chính trị lớn của Đảng, Nhà nước ta là các thế lực thù địch, phản động lại đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá. Thủ đoạn của chúng thường là: phát tán các loại tài liệu; lợi dụng các trang mạng xã hội, các đài, báo nước ngoài có kênh tiếng Việt để đăng tải, chia sẻ thông tin, các bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc, quy chụp, võ đoán,... theo kiểu “nói mò”, nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, kích động, chia rẽ nội bộ, gây hoang mang, thu hút sự chú ý của dư luận.
Những thông tin sai lệch, võ đoán của đài RFA trong bài viết: ““Thế tập” và các “Sứ quân” trước Đại hội 14 của Đảng” chính là nhằm mục đích đó. Vì vậy, mọi người cần trở thành những độc giả thông thái, luôn tỉnh táo, nêu cao cảnh giác để không bị dẫn dắt, mắc mưu của chúng./.
Ngày 05/3, trang fanfage Việt Tân đăng bài: “Hai tháng đầu năm, hơn 23.000 người Việt xuất khẩu lao động” xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đưa người đi lao động ở nước ngoài rằng: “chưa thấy nước nào lại tự hào về số dân xuất khẩu lao động cao như ở Việt Nam. Nó được chính quyền xem như một thành tích đáng ngưỡng mộ, con số xuất khẩu càng cao thì càng được ca ngợi”; trơ trẽn hơn họ còn vu cáo: đây là hoạt động tổ chức “buôn người” quy mô lớn của chính quyền nhằm kiếm tiền môi giới và thu ngoại tệ.
Cần khẳng định: đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho chính người lao động, cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Dân số Việt Nam hiện đang ở trong giai đoạn dân số vàng, đây là cơ hội để chúng ta tận dụng lợi thế, đề ra các chính sách về phát triển nguồn nhân lực để tăng trưởng kinh tế. Người Việt Nam nói chung với đặc tính là cần cù, thông minh và năng động. Tuy nhiên, phần lớn người lao động lại gắn với ngành nghề nông nghiệp truyền thống, thu nhập thấp, hạn chế về trình độ học vấn và chuyên môn, thiếu nhiều kỹ năng làm việc trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Do đó, xuất khẩu lao động như một cánh cửa mở ra cơ hội cho người lao động phổ thông bước ra thế giới, tiếp cận và hoàn thiện kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế và quan trọng hơn hết, là tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng 650.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt. Theo thông tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, được biết: ước tính cả năm 2023, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khoảng 155.000 người, là số lượng cao nhất từ trước đến nay và tăng 8,55% so với năm 2022. Bình quân mỗi năm, khoảng 120.000 đến 143.000 lao động ra nước ngoài làm việc, kiều hối từ lực lượng lao động này gửi về nước đạt 3,5 - 4 tỉ USD, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Trung bình mỗi năm, số lao động Việt Nam đi nước ngoài chiếm xấp xỉ 10% chỉ tiêu việc làm cần giải quyết. Trung bình 03 năm làm việc tại nước ngoài, người lao động có thể tích lũy được từ 500 - 700 triệu đồng. Tính chung, người lao động đi làm việc ở nước ngoài thu nhập bình quân cao hơn từ 5 đến 8 lần so với thu nhập ở trong nước. Với số tiền tích lũy được, nhiều gia đình đã vươn lên thoát nghèo, người lao động sau khi về nước có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất, quan trọng hơn là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Dòng tiền của người Việt ở nước ngoài gửi về cho người thân, đảm bảo đời sống của nhiều gia đình, hỗ trợ an sinh xã hội trong nước. Mới đây, Báo cáo về Di trú và Phát triển do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác quốc tế về người di cư (KNOMAD) cho biết: lượng kiều hối về Việt Nam thường xuyên đạt trên 10 tỉ USD/năm kể từ năm 2010 đến nay. Đặc biệt, năm 2023 vừa qua, Việt Nam đã thu hút được khoảng từ 14 - 15 tỉ USD và nằm trong tốp 3 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tốp 10 quốc gia trên thế giới. Đây là một tín hiệu tích cực về nguồn lực tài chính, giúp Việt Nam có thể bù đắp, giảm sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đất nước.
Cùng với đó, những lợi ích từ xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần giải quyết việc làm cho người dân - một trong những thách thức lớn với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ những kiến thức, kỹ năng, phong cách lao động mà người lao động tiếp thụ được trong quá trình tham gia xuất khẩu lao động; nhất là, những người làm việc trong các ngành công nghệ cao, như công nghiệp điện tử, công nghiệp ô tô, v.v.
Như vậy, xuất khẩu lao động thực sự là chủ trương, chính sách mang lại lợi ích kép “ích nước, lợi nhà”, không phải chỉ riêng Việt Nam đang thực hiện mà nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới cũng đang tăng cường thực hiện; thậm chí có quốc gia còn xác định xuất khẩu lao động trở thành động lực quan trọng để phát triển đất nước, như: Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Philippines, v.v. Vì lẽ đó, Việt Tân rêu rao: “đây là hoạt động tổ chức “buôn người” quy mô lớn của chính quyền” là giọng điệu xuyên tạc trơ trẽn hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, cần lên án và đấu tranh bác bỏ./.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng và luôn mang tính thời sự. Trước tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như hiện nay thì tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thử máy cấy lúa cải tiến tại Trại thí nghiệm trồng lúa Sở Nông lâm Hà Nội (năm 1960)_Ảnh: Tư liệu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là cái gốc của con người trong mọi thời đại, mà còn đưa ra khái niệm đạo đức mới, với nội dung mới, phản ánh đạo đức ở tầm cao hơn, rộng hơn, sâu sắc hơn, đó là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng làm nên sức mạnh của Đảng và là một nhân tố quan trọng bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức bắt nguồn từ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự tiếp thu và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại mà Người đã tiếp cận được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đối với cách mạng Việt Nam, sự đòi hỏi về đạo đức còn cao hơn, bởi cách mạng Việt Nam phải tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt: Tiến hành ở một nước nông nghiệp lạc hậu và phải đương đầu với các thế lực thù địch, phản động nhất, xảo quyệt nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cách mạng nhất định sẽ thành công, nhưng thành công nhanh hay chậm, mức độ thành công lớn hay nhỏ... tùy thuộc vào đạo đức cách mạng của những người làm cách mạng, trình độ giác ngộ cách mạng và ý chí chiến đấu của quần chúng nhân dân. Người nhấn mạnh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Đề cao vai trò của tư tưởng, tinh thần, đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có người nói: Lúc này mà xem trọng tinh thần tư tưởng là không duy vật biện chứng. Các cô, các chú có biết vì sao mà cách mạng của ta thành công không? Vì tinh thần. Lúc bấy giờ thực dân, phong kiến có công an, quân đội, cảnh sát, chính quyền - tất cả, Đảng ta chỉ có hai bàn tay không. Vì sao ta thành công? - Vì ta đoàn kết! Lấy gì mà đoàn kết? Lấy tinh thần!”.
Với tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người không ngừng giáo dục những phẩm chất đạo đức cách mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đạo đức cách mạng, một mặt, là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như hiện nay; mặt khác, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của những người lãnh đạo. Trong lịch sử các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, những vị vua nắm quyền trị nước cũng như những lãnh tụ dân tộc muốn lãnh đạo được nhân dân và được nhân dân tin theo, đều phải là những người gương mẫu về đạo đức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Bản thân Người nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng - những phẩm chất đạo đức cao đẹp, trong đó bao hàm nhiều giá trị mới, tích cực và tiến bộ. Người quan niệm đạo đức cách mạng là nền tảng tạo ra động cơ hành động đúng đắn, tạo ra ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước, khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần chất phác, giản dị, khiêm tốn; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò, tác dụng cũng như những biểu hiện cao quý của đạo đức cách mạng và chứng thực điều đó qua tấm gương của những chiến sĩ cộng sản tiền bối đã làm nên truyền thống vẻ vang của Đảng, của cách mạng: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và tài năng, Người khẳng định đạo đức là gốc, quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kết dân tộc; nhờ đó mà đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức nói chung cũng như đạo đức cách mạng nói riêng cho mọi người, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tựu trung lại, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng gồm những điểm cơ bản sau đây:
Một là, phẩm chất trung với nước, hiếu với dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ quan niệm đạo đức cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong xã hội phong kiến phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, cao rộng hơn là “trung với nước, hiếu với dân”. Người khẳng định: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Chỉ dẫn đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn lâu dài mãi mãi về sau.
Hai là, tình yêu thương con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình yêu thương con người rất toàn diện và độc đáo. Người xác định tình yêu thương con người là một phẩm chất cao đẹp nhất trong tình cảm đạo đức của loài người. Người luôn dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương đồng bào, đồng chí rất bao la, sâu rộng và toàn diện, không phân biệt vùng, miền, trẻ, già, trai, gái..., hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tấm lòng bao dung cao cả của một người Cha, đặc biệt là đối với những người phạm phải sai lầm, khuyết điểm. Người căn dặn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”. Chính vì vậy, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người căn dặn Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”; mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến tình yêu thương con người.
Ba là, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao, với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to. Kiệm còn có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc nào của Nhà nước, của nhân dân; phải trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không ham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình, nhờ đó mà quang minh, chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn; đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình; đối với người thì không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc; đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư tức là “làm việc vì sự nghiệp chung, đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết; không tư lợi, vụ lợi, không vì lợi ích riêng”. Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình phải đi sau, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi người, nhất là những người có vị trí ảnh hưởng đối với xã hội, cộng đồng, phải luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và thực hành theo bốn đức tính: cần, kiệm, liêm, chính; thiếu một đức tính cũng không thể thành người. Bởi, “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/Thiếu một mùa, thì không thành trời/Thiếu một phương, thì không thành đất/Thiếu một đức, thì không thành người”.
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng một câu thơ “Quan sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em!”, là tinh thần đoàn kết giữa những người cộng sản với các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới mà Người đã dày công vun đắp bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Đó cũng là tinh thần đoàn kết, hợp tác và hữu nghị của nhân dân Việt Nam với tất cả nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, vì mục tiêu hòa bình, công lý, tiến bộ xã hội và độc lập dân tộc.
Đánh giá cao vai trò của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc. Chính Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam và những phẩm chất đạo đức cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những quy tắc đạo đức mà Người nêu ra đã trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Trong suốt 53 năm thực hiện Di chúc của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay.
Tiếp tục tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để mỗi cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức tốt đẹp của mình, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vững vàng trong mọi điều kiện, môi trường xã hội khác nhau thì cùng với sự tự giác rèn luyện, phấn đấu, còn phải cần đến sự giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của Đảng. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Người coi là công việc càng phải tiến hành thường xuyên, liên tục hơn. Với nhãn quan đặc biệt nhạy bén về chính trị, Người đã nhìn nhận rõ tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, sa vào con đường tham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực; lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi của cá nhân... Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi và liên tục tẩy trừ mọi tệ nạn do sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên gây ra, trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội. Nhận thức rõ sự tác động qua lại giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và môi trường xã hội, cũng như những đổi thay có thể diễn ra trong nhân cách cùng ý thức và hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một nhận định mang tính triết lý và thực tiễn sâu sắc, có giá trị to lớn trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Đây chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với các đảng cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản, nhất là những đảng viên cộng sản có chức, có quyền, giữ các vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Đăk Mút, xã Đăk Mar, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum_Ảnh : TTXVN
Qua hơn 35 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội có bước chuyển biến tích cực, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Đa số cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, trước những tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ... một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Nhận định những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng này và coi đó là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Tại các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương tiếp theo, Đảng có những đánh giá thẳng thắn về các nguy cơ này; trong đó, nổi lên các biểu hiện đáng lo ngại là: Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt nguy hiểm là sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng. Nói không đi đôi với làm. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để tìm kiếm các mối quan hệ, liên kết “lợi ích nhóm” bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.
Như vậy, thực trạng suy giảm đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây hậu quả rất nặng nề, làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng, mà nếu không được ngăn chặn và đẩy lùi triệt để thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân dân lúc này là thiết tha mong muốn, đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi Đảng phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ trên thực tế, bằng những việc làm, ứng xử và hành xử, là những người có đạo đức.
Nhìn nhận rõ thực trạng đó, tại Đại hội XII, Đảng đã nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức và đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng: “Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức””. Lần đầu tiên, Đảng đưa nội dung xây dựng Đảng về đạo đức - một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng - vào trong văn kiện. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một thành tố nữa vào công tác xây dựng Đảng là cán bộ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(16).Đó vừa là định hướng thực tiễn, vừa là chỉ báo đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung xây dựng Đảng về đạo đức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây chính là khâu đột phá về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền đang thực thi trọng trách lịch sử mà dân tộc và nhân dân ủy thác: Lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong thời gian tới, để tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đặc biệt quan tâm đến một số nội dung sau:
Một là, mọi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây phải được xác định là biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Trước hết, việc học tập, tự học tập để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các nội dung học tập phải được đưa vào sinh hoạt chi bộ và trở thành nền nếp. Thường xuyên trao đổi, thảo luận, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương. Biểu dương những việc làm tốt, kịp thời phát hiện, uốn nắn những việc làm chưa tốt, nhất là trong việc vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác phấn đấu và tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức được xây dựng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng tổ chức đảng.
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai giúp dân_Nguồn: baolaocai.vn
Hai là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; theo đó, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, đặc biệt là quán triệt và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Đây được xác định là khâu mấu chốt để thực hiện việc nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Để thực hiện tốt nội dung này, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Ba là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Một mặt, để nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra trước hết là phải xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tổ chức thì tổ chức, đơn vị đó mới hoạt động có hiệu quả. Thực tế cho thấy, phải có trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng thì mỗi cá nhân mới có đóng góp cụ thể cho tổ chức, mới “nói đi đôi với làm”, tham gia cùng tập thể chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, để động viên, khuyến khích tinh thần trách nhiệm và hạn chế thói lười biếng, vô trách nhiệm, ỷ lại, tư lợi cá nhân của cán bộ, đảng viên, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát về những nội dung này; thông qua kiểm tra, giám sát để quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa cơ quan, đơn vị, nhất là những cán bộ có chức, có quyền, trong các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm, như quản lý kinh tế, công tác cán bộ... Đồng thời, phát hiện và xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.
Bốn là, không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với việc tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước. Quá trình đổi mới và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đặt ra yêu cầu phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để hạn chế những “lỗ hổng” dễ bị lợi dụng; đặc biệt, cần tăng cường kỷ cương, phép nước, tính nghiêm minh của pháp luật để củng cố niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng và thực hiện kỷ luật đảng thật sự nghiêm minh; xử lý kịp thời, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào; kiên quyết đấu tranh với những thói hư, tật xấu trong Đảng.
Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trong giám sát cán bộ, công chức. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, cũng như trong việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và ngăn chặn tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Bên cạnh đó, cần phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống./.