Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025

KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ, KHÔNG PHẢI SỰ TRÌ TRỆ TƯ DUY

 

KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ, KHÔNG PHẢI SỰ TRÌ TRỆ TƯ DUY

Trên trang “Doithoaionline”, Vũ Đức Khanh đăng tải bài viết “Chủ nghĩa Mác-Lênin và cái chết lâm sàng của lý luận Đảng”, với những luận điệu xuyên tạc rằng: “Đảng lặp lại Mác – Lênin không phải vì tin, mà vì không còn gì khác để thay thế”; “Sự trì trệ này không chỉ là vấn đề học thuật. Nó là điểm yếu chiến lược”. Không thể mãi lấy một học thuyết thế kỷ XIX – vốn đã đổ vỡ trong thế kỷ XX – để ràng buộc cả một dân tộc đang sống trong thế kỷ XXI”… Đây là những luận điệu phản động, sai trái, mang tính quy chụp, nhằm làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin không lỗi thời, mà là nền tảng tư tưởng vững chắc, khoa học và cách mạngChủ nghĩa Mác – Lênin là thành quả kết tinh tinh hoa trí tuệ nhân loại. Học thuyết đó đến nay vẫn là nền tảng lý luận vững chắc để giải thích và định hướng sự phát triển của các xã hội hiện đại, đặc biệt là đối với những quốc gia đang đấu tranh cho độc lập dân tộc và công bằng xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng không phải do thiếu lựa chọn, mà là kết quả của sự tìm tòi lý luận và tổng kết thực tiễn cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin từ chính thực tiễn của dân tộc và khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người hạnh phúc, ấm no, tự do”. Người tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với điều kiện của Việt Nam – con đường cách mạng vô sản. Đảng ta kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chủ nghĩa Mác – Lênin không hề “ràng buộc” dân tộc như sự quy chụp phản động của Vũ Đức Khanh.

Hai là, sự kiên định về tư tưởng không phải là bảo thủ, mà là bản lĩnh chiến lược. Vũ Đức Khanh cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “trì trệ tư duy”, “không chịu đổi mới”,… là hoàn toàn sai trái, phiến diện và xuyên tạc. Trên thực tế, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng, không có tư duy độc lập, sáng tạo thì Đảng ta không thể lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện từ năm 1986 đến nay, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một quốc gia nghèo, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được đảm bảo. Quy mô kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986, nằm trong nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và top 20 về thương mại quốc tế. Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc. Tiềm lực mọi mặt không ngừng được nâng cao, góp phần tích cực vào hòa bình và ổn định khu vực, thế giới.

Ba là, không thể đánh tráo khái niệm giữa học thuật và chính trịMột trong những thủ đoạn của Vũ Đức Khanh là đánh tráo khái niệm: lấy vỏ bọc học thuật để phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin. Y cho rằng tư tưởng thế kỷ XIX là lạc hậu, không phù hợp với thế kỷ XXI, mà không hề đề cập đến khả năng thích nghi, phát triển của lý luận ấy trong thực tiễn hiện nay. Trên thực tế, bản thân chủ nghĩa Mác – Lênin không bao giờ tự trói mình vào khuôn khổ thời gian hay không gian lịch sử. Ngược lại, chính Mác, Ăngghen, Lênin đã nhấn mạnh: Lý luận phải gắn liền với thực tiễn và phải không ngừng phát triển cùng thực tiễn. Vì vậy, việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay chính là một quá trình cập nhật, sáng tạo, có chọn lọc, chứ không phải là sao chép giáo điều.

Cần phải thấy rằng, các học thuyết tư bản chủ nghĩa, dù thay đổi tên gọi hay hình thức, đều lấy lợi nhuận làm động lực chính, đề cao chủ nghĩa cá nhân, tự do tuyệt đối, dẫn đến bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng giá trị. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn hướng đến con người, cộng đồng và sự công bằng xã hội. Đó là giá trị bền vững vượt thời đại của một học thuyết.

Tóm lại, những luận điệu chống phá của Vũ Đức Khanh thực chất là những chiêu trò quy chụp, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm gây hoang mang dư luận, làm xói mòn niềm tin trong nội bộ và nhân dân. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước cần nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ bản chất các luận điệu sai trái, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cả trong không gian thực và không gian mạng./.

ĐỪNG ĐỂ NGỤY BIỆN THAY THẾ SỰ THẬT

 

ĐỪNG ĐỂ NGỤY BIỆN THAY THẾ SỰ THẬT

Trên trang Baotiengdan, bài viết “Đảng bóc lột công nhân ra sao?” đã lan truyền những quan điểm sai trái và kích động, tập trung vào phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cổ xúy, kêu gọi cho việc hình thành và hợp thức hóa các tổ chức, hội nhóm đối lập, nhằm chống phá chế độ.

1. Bài viết đã cố tình đối lập hóa giữa giai cấp công nhân với “những người đại diện” trong Đảng. Mục đích của việc tạo cảm xúc bất bình bằng hình ảnh tương phản mà bài viết nhắm tới không gì khác là nhằm quy chụp “Đảng đã phản bội giai cấp công nhân”.

Những lập luận ấy hoàn toàn dựa trên định kiến, không có cơ sở lý luận hay thống kê thực chứng. Cần khẳng định rằng: Sự tồn tại của giai cấp tư sản luôn gắn liền với giai cấp công nhân. Đây là hai giai cấp luôn tồn tại mâu thuẫn đối kháng về lợi ích, mà ở đó, giai cấp công nhân là lực lượng bị giai cấp tư sản tước đoạt quyền lợi thông qua việc chiếm đoạt giá trị thặng dư. Những con số về mức lương và đời sống của công nhân mà bài viết “Đảng bóc lột công nhân ra sao?” đưa ra, nếu có thật, thì cũng chỉ phản ánh rõ hơn sự bất bình đẳng, mà thủ phạm của nó chính là giai cấp tư sản. Chưa kể, việc tác giả đưa ra sự so sánh về mức lương của công nhân Việt Nam với mức lương của công nhân ở các nước khác là một sự so đo hoàn toàn khập khiễng, mang nặng sự áp đặt, chủ quan.

2. Ở Việt Nam, những khó khăn trong đời sống của một bộ phận công nhân là thực tế, nhưng nó bắt nguồn từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chất lượng quản trị doanh nghiệp, và cả từ chính sự phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân. Việc bài viết nêu trên cố tình rêu rao rằng “giới lãnh đạo” sống giàu sang trên lưng giai cấp công nhân là một sự quy chụp thiếu căn cứ. Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay đã và đang xử lý nghiêm nhiều trường hợp thoái hóa biến chất, trong đó có những người từng giữ vị trí lãnh đạo cao. Không thể lấy số ít đó để phủ định bản chất toàn bộ đội ngũ cán bộ, càng không thể từ đó suy ra rằng Đảng phản bội lợi ích của người lao động.

Khoác lên mình chiếc áo “công lý cho người lao động”, tác giả bài viết “Đảng bóc lột công nhân ra sao?” cho rằng: Vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân chỉ tồn tại “trên giấy tờ” và “họ không có quyền lựa chọn đại diện cho mình”. Tác giả đưa ra nhận định hết sức phi lý rằng Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ là “cầu nối”, là cánh tay nối dài của chính quyền để “thực thi các chính sách từ trên xuống”. Vì vậy, theo bài viết, “công nhân phải có quyền thành lập công đoàn độc lập” để thực hiện nguyên tắc hết sức cải lương, phi thực tế, đó là: “ai sáng tạo ra của cải, người đó phải có quyền quyết định phân phối của cải”.

Đây là sự đánh tráo các khái niệm một cách phiến diện, hòng gieo rắc hoài nghi trong nội bộ giai cấp công nhân, đồng thời cổ súy cho cái gọi là “công đoàn độc lập”. Không có mô hình công đoàn nào là “phi chính trị” như họ cố gắng ngụy trang. Ở nhiều nước, công đoàn độc lập thực chất là một hình thức tập hợp lực lượng đối kháng với nhà nước – thông qua gây rối, đình công, gây sức ép chính trị từ đường phố thay vì đối thoại trong thể chế. Cái giá phải trả thường là bất ổn xã hội, sản xuất đình trệ và thiệt hại trực tiếp lại chính là người lao động. Ở Việt Nam, hệ thống công đoàn hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, với mục tiêu là nâng cao đời sống và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong sự hài hòa với lợi ích quốc gia. Những người kêu gọi “độc lập hóa công đoàn” không quan tâm đến việc tăng lương, cải thiện môi trường làm việc hay đào tạo kỹ năng cho công nhân, mà chỉ quan tâm đến một điều duy nhất: Tạo ra đối trọng chính trị.

3. Nguyên tắc “ai làm ra của cải phải có quyền quyết định phân phối” nghe có vẻ hợp lý nhưng lại là một kiểu đánh tráo khái niệm giữa quyền sở hữu với vai trò quản lý – điều tiết xã hội. Trong thực tế, việc phân phối giá trị không chỉ dựa trên sức lao động cá nhân mà còn phụ thuộc vào tính chất của nền sản xuất xã hội, hệ thống pháp luật, nghĩa vụ thuế, các cơ chế tái phân phối để đảm bảo công bằng xã hội. Ở một nền kinh tế hiện đại, không ai có thể đơn phương “quyết định phân phối” toàn bộ thành quả do mình làm ra. Các nguyên tắc phân phối hiện đại dựa trên công bằng tương đối, do nhà nước làm trung gian điều tiết. Nếu phủ nhận vai trò của cơ chế điều tiết, phủ nhận nguyên lý phân phối vì lợi ích cộng đồng thì tất yếu dẫn đến bất bình đẳng, đầu cơ và phân hóa xã hội.

Những lập luận trong bài viết nêu trên cố tình biến các vấn đề xã hội có tính khách quan thành vấn đề chính trị đối lập, bằng cách quy kết nguyên nhân cho “bản chất” của Đảng hoặc mô hình tổ chức hiện hành. Đây là cách làm không nhằm sửa chữa hiện thực, mà nhằm gây đổ vỡ hệ thống. Thực tế cho thấy, để cải thiện đời sống công nhân cần tổng hòa nhiều yếu tố: Tăng năng suất lao động, cải thiện chất lượng giáo dục nghề, kiểm soát chi phí, nâng cao vai trò của công đoàn, giám sát chặt chẽ doanh nghiệp… Không có giải pháp “lật đổ hệ thống để có công bằng tức thì” như những bài viết kiểu này cổ vũ. Bất ổn chính trị luôn là đòn giáng mạnh nhất vào đời sống người lao động. Bài viết “Đảng bóc lột công nhân ra sao” không đưa ra một giải pháp nào cho người công nhân – ngoài việc gieo rắc sự thù ghét và kêu gọi phá vỡ các thiết chế hiện có. Những luận điệu mang tính kích động, dễ gây ngộ nhận và chia rẽ trong nội bộ xã hội cần phải được nhận diện, đấu tranh và loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội./.

CÁO BUỘC VÔ CĂN CỨ VỀ “ĐÀN ÁP TỰ DO TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG” Ở VIỆT NAM

 

CÁO BUỘC VÔ CĂN CỨ VỀ “ĐÀN ÁP TỰ DO TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG” Ở VIỆT NAM

Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí như Tổ chức Vận động cho Đức tin và Công lý tại Việt Nam (AFJV), Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) hay các phần tử cực đoan lưu vong đã liên tục đưa ra các cáo buộc vô căn cứ về việc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo; ngăn chặn tụ tập tôn giáo; xâm phạm tài sản tôn giáo; cưỡng ép từ bỏ tôn giáo; từ chối đơn đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân… Đây là những cáo buộc mang tính suy diễn, một chiều, bóp méo sự thật nhằm can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cần được đấu tranh, bác bỏ trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

1. Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với pháp luật quốc tế

Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 khẳng định quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng quy định rõ tại Điều 24: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 26 triệu tín đồ thuộc 16 tôn giáo và trên 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động. Các hoạt động tôn giáo diễn ra phong phú, đa dạng, từ lễ hội, nghi lễ tôn giáo đến các hoạt động từ thiện, nhân đạo, đều được tôn trọng và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật. Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam đã tham gia và thực hiện báo cáo định kỳ trước các cơ chế của Liên hợp quốc như: UPR, ICCPR… và chủ động đối thoại với các tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, minh bạch.

2. Nhận diện và phản bác các luận điệu vu cáo về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt nam

Một là, luận điệu “Hình sự hóa hoạt động tôn giáo” là hoàn toàn sai lệch. Nhà nước Việt Nam chỉ xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật như: Kích động bạo lực, tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không bao giờ xử lý đơn thuần vì lý do tôn giáo. Trường hợp linh mục Đặng Hữu Nam mà AFJV đề cập không liên quan đến quyền tự do tôn giáo mà xuất phát từ việc ông này có các hoạt động lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc sự kiện Formosa, kích động biểu tình, gây rối trật tự. Hơn nữa, chính Giám mục Nguyễn Hữu Long – người có đầy đủ thẩm quyền trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã áp dụng các biện pháp quản lý đối với linh mục Nam hoàn toàn theo nội bộ giáo luật Công giáo, không phải là sự can thiệp của chính quyền.

Hai là, luận điệu “Ngăn chặn tụ tập tôn giáo” là sự bóp méo bản chất. Việt Nam tạo điều kiện cho các hoạt động tụ tập tôn giáo hợp pháp. Việc kiểm soát một số hoạt động tụ tập trái phép, không tuân thủ quy định là nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, điều mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều áp dụng. Không thể nhân danh tôn giáo để bao biện cho các hành vi lợi dụng tụ tập gây rối, phá hoại như những gì xảy ra tại Nghệ An giai đoạn sau sự cố môi trường biển miền Trung.

Ba là, luận điệu “Xâm phạm tài sản tổ chức tôn giáo” là cáo buộc vô căn cứ. Thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo hộ tài sản hợp pháp của các tổ chức tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới với sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp. Nếu có mâu thuẫn liên quan đến đất đai, tài sản, đều được giải quyết theo pháp luật chung, không có sự phân biệt đối xử tôn giáo.

Bốn là, luận điệu “Cưỡng ép từ bỏ tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Không có chính sách, văn bản nào của Nhà nước Việt Nam quy định hoặc khuyến khích việc cưỡng ép từ bỏ tôn giáo. Đây là thủ đoạn tuyên truyền nhằm hạ thấp hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Năm là, luận điệu “Từ chối đơn xin đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân” là vu cáo trắng trợn. Việc đăng ký tổ chức tôn giáo tại Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ, minh bạch nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tránh bị lợi dụng để hoạt động trái pháp luật. Những trường hợp không được cấp phép thường do không đáp ứng đủ điều kiện về pháp lý, nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc có dấu hiệu hoạt động trái pháp luật, chứ không phải vì lý do kỳ thị tôn giáo.

Tóm lại, AFJV được thành lập tại Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “bảo vệ công lý”, nhưng thực chất là công cụ chính trị nhằm xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF – tổ chức liên tục đưa Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) về tự do tôn giáo – cũng đã nhiều lần bị các chuyên gia quốc tế và ngay cả nội bộ Mỹ chỉ trích về sự thiên lệch, thiếu khách quan, sử dụng tiêu chí kép để gây sức ép chính trị. Những cáo buộc cho rằng Việt Nam “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” là thiếu căn cứ, bóp méo bản chất sự việc, phục vụ ý đồ chính trị của một số tổ chức, cá nhân cực đoan. Việt Nam kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái này, đồng thời khẳng định cam kết tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo hợp pháp, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước./.

Nghị quyết 68 là động lực, bệ phóng, không phải tấm băng rôn

 

Nghị quyết 68 là động lực, bệ phóng, không phải tấm băng rôn

- Ngày 12/8/2025, trang facebook Việt Tân có bài viết cho rằng: Nghị quyết 68, ngày 04/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân không phải là động lực phát triển đất nước, chỉ là khẩu hiệu treo cho đẹp???

Thực tế, tiếp sau đại dịch Covid-19, là các cuộc xung đột quân sự, chiến tranh thương mại, cộng với quá trình biến đổi khí hậu làm khủng hoảng chuỗi cung ứng, tác động mạnh đến kinh tế mọi quốc gia trên thế giới. Do đó, trong năm 2024 và những tháng đầu năm 2025, các quốc gia đều tập trung tái cấu trúc nền kinh tế, lấy tư nhân quốc tế đóng vai trò chính trong đổi mới - sáng tạo, đầu tư, chuyển dịch nền kinh tế số. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước đang hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao trước 2030 và phát triển thịnh vượng, công bằng, bền vững; đồng thời, kinh tế tư nhân đã và đang chứng tỏ tính năng động, sáng tạo, bù đắp khoảng trống mà khu vực nhà nước chưa thể tiếp cận nhanh nhạy, nhất là trong các ngành mới, như: công nghệ thông tin, kinh tế số, năng lượng sạch, logistics, v.v. Nên Nghị quyết 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025, về “phát triển kinh tế tư nhân” ra đời là phù hợp bối cảnh, đánh dấu bước ngoặt khẳng định kinh tế tư nhân không chỉ là một thành phần kinh tế, mà còn là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tính động lực được thể hiện trên nhiều khía cạnh.

1. Đổi mới tư duy phát triển. Trước đây, kinh tế tư nhân dù được thừa nhận về mặt chính thức thì vẫn bị coi là thành phần nền kinh tế “có điều kiện”. Nghị quyết 68 chính thức nâng tầm kinh tế tư nhân thành “động lực quan trọng” - điều này không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn có giá trị chiến lược, tạo xung lực phát triển.

2. Khẳng định vai trò trong cơ cấu kinh tế. Việc khẳng định vai trò đó giúp xóa bỏ tư tưởng “thiệt thòi”, giúp kinh tế tư nhân trở thành đối tác bình đẳng trong liên kết công - tư, góp phần xây dựng nền kinh tế đa thành phần cởi mở, linh hoạt và phát triển toàn diện.

3. Đột phá hỗ trợ, nâng tầm kinh tế tư nhân, như: (1). Về tầm nhìn chiến lược và mục tiêu, đã gắn phát triển kinh tế tư nhân: với xây dựng chính phủ kiến tạo, phục vụ; với hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, và phát triển xanh. Và kinh tế tư nhân không còn là “bộ phận phụ trợ”, mà là nhân tố trung tâm, động lực chủ đạo của nền kinh tế thị trường. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp một tỉ trọng đáng kể trong GDP, tạo thêm hàng triệu việc làm chất lượng, tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả, có quy mô ngang tầm khu vực và quốc tế góp phần đưa đất nước có trên 2 triệu doanh nghiệp. (2). Giảm gánh nặng hành chính; đơn giản hóa các loại giấy phép, rút ngắn thời gian, minh bạch hóa quy trình; doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận vốn, đất đai, nguồn lực công như doanh nghiệp nhà nước,… tạo sân chơi bình đẳng. (3) Khuyến khích đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đào tạo và phát triển năng lực; ưu đãi thuế cho nghiên cứu, phát triển, khởi nghiệp, chuyển đổi số; hỗ trợ kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp, các quỹ đầu tư, trường đại học; nâng cao kỹ năng quản trị, chuyển giao công nghệ, quản trị quốc tế. (4). Tạo khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu, đầu tư và cạnh tranh lành mạnh; chống độc quyền, lãng phí, lạm quyền; minh bạch thông tin; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, v.v.

4. Thúc đẩy thực tiễn phát triển. Nghị quyết 68 cho doanh nghiệp cảm nhận rõ: “Chính phủ và Đảng đồng hành lâu dài” đã tác động mạnh đến tâm lý và niềm tin; nó củng cố niềm tin cho các doanh nhân, nhất là người trẻ, sáng tạo, khởi nghiệp; xóa bỏ rào cản tâm lý “không dám”, “ngại rủi ro chính sách”. Đồng thời, môi trường kinh doanh cải thiện mạnh; thủ tục đăng ký doanh nghiệp giảm từ hàng chục ngày xuống vài ngày với chi phí giảm đáng kể; các doanh nghiệp tư nhân được đưa vào trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nên số lượng startup tăng nhanh, góp phần bảo toàn nguồn nhân lực công nghệ. Với niềm tin được khẳng định, dòng vốn đầu tư tư nhân, trong nước, lẫn từ kiều hối được huy động mạnh hơn; các doanh nghiệp trong nước - đặc biệt các tập đoàn lớn - mạnh dạn tiếp cận công nghệ cao, M&A, liên doanh với tập đoàn toàn cầu,… góp phần nâng tầm năng lực ngành.

Nhờ đó, tăng trưởng GDP bình quân đạt mức cao hơn trung bình giai đoạn trước, (quý 2/2025 tăng trưởng gần 08%); tỷ lệ đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP tăng từ 40% lên 50 - 60%; thương mại quốc tế phát triển, theo hướng xuất khẩu giá trị gia tăng, sản phẩm công nghệ - chuyển dịch dần khỏi xuất khẩu lao động chân tay; văn hóa đổi mới, khởi nghiệp lan rộng từ đô thị ra vùng nông thôn, vùng kinh tế mới, v.v. Như vậy, Nghị quyết 68 mở ra cơ hội để các doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư, đổi mới, tạo việc làm, đóng thuế, thúc đẩy hội nhập, phát triển nguồn nhân lực tại địa phương,… góp phần gắn kết cộng đồng, lan tỏa trách nhiệm xã hội, là động lực mới, quan trọng đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng - ổn định kinh tế quốc gia./.

Cái giá phải trả cho kẻ lợi dụng dân chủ để chống phá Nhà nước

 

Cái giá phải trả cho kẻ lợi dụng dân chủ để chống phá Nhà nước

         - Ngày 14/8, Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội chính thức ban hành Quyết định truy nã đối tượng Đoàn Bảo Châu (sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú tại phường Giảng Võ, Thành phố Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngay lập tức, trang facebook Việt Tân đăng status: “Bộ Công an Cộng sản Việt Nam phát lệnh truy nã nhà báo tự do Đoàn Bảo Châu vì lên tiếng phê phán các bất công xã hội”!, nhằm mục đích tạo sự chú ý của các tổ chức, cá nhân chống đối trong và ngoài nước bao che, cổ súy cho đối tượng chống đối này.

Đối tượng Đoàn Bảo Châu và lệnh truy nã

          Như được biết, thời gian gần đây, cái tên Đoàn Bảo Châu liên tục xuất hiện trên không gian mạng xã hội. Điều đáng nói là, sự xuất hiện đó của Đoàn Bảo Châu không phải bởi những đóng góp tích cực cho cộng đồng, mà chủ yếu là vì hàng loạt phát ngôn và bài viết gây tranh cãi, mang tính chất xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Trong những bài viết của mình, Đoàn Bảo Châu liên tục tự nhận là người vô tội, là người đấu tranh ôn hòa vì chính nghĩa. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là bên cạnh việc tự thanh minh, ông ta không ngần ngại công kích chính quyền bằng những lời lẽ phiến diện, quy chụp và thiếu căn cứ, thậm chí lật lại những sự kiện lịch sử với mục đích xuyên tạc, kích động dư luận. 

          Điển hình là, dưới danh nghĩa phản biện xã hội, Đoàn Bảo Châu thường xuyên lợi dụng các sự kiện tiêu cực, những bất cập trong đời sống xã hội để bóp méo, xuyên tạc bản chất sự việc, từ đó gieo rắc nghi ngờ và tạo ra ấn tượng sai lệch trong dư luận. Mới đây, ông ta đã theo đuôi một số luồng thông tin trên mạng xã hội để công kích, phủ nhận giá trị của Nghị định 168/2024/NĐ-CP, đây là văn bản pháp lý thay thế cho Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi tại Nghị định 123/NĐ-CP) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Không chỉ bày tỏ quan điểm phản đối, Đoàn Bảo Châu còn sử dụng ngôn từ miệt thị, xúc phạm thô lỗ khi gọi nghị định là “ngu xuẩn và khốn kiếp”, thậm chí còn đưa ra lời thách thức thiếu văn hóa đối với những người xây dựng chính sách. Cùng với đó, Đoàn Bảo Châu lợi dụng quyền tự do ngôn luận để kích động, chia rẽ và phá hoại khối đoàn kết xã hội. Dưới vỏ bọc “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền”, Đoàn Bảo Châu không ngừng công kích chính quyền, cổ vũ cho sự can thiệp của các tổ chức nước ngoài vào công việc nội bộ của Việt Nam. Các bài viết không nhằm phản biện để cải thiện xã hội, mà chủ yếu nhằm mục đích khoét sâu sự bất đồng giữa chính quyền và người dân, chia rẽ các tầng lớp xã hội, kích động tâm lý phản kháng cực đoan. Trong bài viết “Tại sao tôi đau xót?”, Đoàn Bảo Châu cố tình xuyên tạc, bóp méo tình hình đất nước, tung hô ca ngợi những kẻ vi phạm pháp luật là “người yêu nước”, gọi những cá nhân bị kết án vì hành vi chống phá nhà nước là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là cách mà các thế lực phản động, thù địch, chống đối vẫn thường sử dụng, đó là khoác cho những kẻ phản loạn lớp vỏ “lương tâm” để từ đó đánh tráo khái niệm và gây nhiễu loạn nhận thức cộng đồng. Những nhân vật là “nhà yêu nước”, “tù nhân lương tâm”, như: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang,… mà Châu ca ngợi thì đều là những đối tượng đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam vì hành vi vi phạm nghiêm trọng trật tự, an ninh quốc gia. Việc Đoàn Bảo Châu cổ súy, tung hô, ca ngợi những đối tượng này là hành vi tiếp tay cho luận điệu phản động, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đoàn Bảo Châu còn sử dụng không gian mạng như một công cụ để công kích, thách thức chính quyền. Trong bài viết “Các vị đã thua”, Châu không ngần ngại tự nhận mình là người có lý tưởng cao cả, là đại diện cho công luận, là người “bất khuất không sợ hãi”. Không chỉ dừng lại ở việc tự ca ngợi, tung hô mình, ông ta còn buông lời đe dọa, thách thức nếu bị bắt thì sẽ không hợp tác, không trả lời, “thích đánh thì đánh nhưng nhớ trói tay tôi vào”. Những phát ngôn như vậy của Đoàn Bảo Châu không chỉ thể hiện sự ngạo mạn, mà còn mang màu sắc kích động, lôi kéo, khơi dậy tâm lý chống đối và bất hợp tác với pháp luật. 

          Với những hành vi và phát ngôn của Đoàn Bảo Châu không còn dừng lại ở giới hạn của một cá nhân phản biện xã hội mà là hành vi lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước. Việc Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội quyết định truy nã đối với Đoàn Bảo Châu là hoàn toàn đúng quy định pháp luật để giữ nghiêm kỷ cương xã hội và bảo vệ nền tảng pháp lý của quốc gia; toàn thể người dân cùng chung tay cung cấp thông tin, để phục vụ công tác điều tra và đưa đối tượng về quy án. Đây chính là cái giá phải trả cho kẻ lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước. Những chiêu trò mà Việt Tân và các tổ chức, cá nhân chống đối cố tình rêu rao sẽ không bao giờ trở thành tấm bình phong để bao biện cho hành vi vi phạm pháp luật của Đoàn Bảo Châu./.

Cáo buộc vô căn cứ về “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” ở Việt Nam

 

Cáo buộc vô căn cứ về “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” ở Việt Nam

          Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí như Tổ chức Vận động cho Đức tin và Công lý tại Việt Nam (AFJV), Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) hay các phần tử cực đoan lưu vong đã liên tục đưa ra các cáo buộc vô căn cứ về việc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo; ngăn chặn tụ tập tôn giáo; xâm phạm tài sản tôn giáo; cưỡng ép từ bỏ tôn giáo; từ chối đơn đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân, v.v. Đây là những cáo buộc mang tính suy diễn, một chiều, bóp méo sự thật nhằm can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cần được đấu tranh, bác bỏ trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

1. Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với pháp luật quốc tế

Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 khẳng định quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng quy định rõ tại Điều 24: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 26 triệu tín đồ thuộc 16 tôn giáo và trên 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động. Các hoạt động tôn giáo diễn ra phong phú, đa dạng, từ lễ hội, nghi lễ tôn giáo đến các hoạt động từ thiện, nhân đạo, đều được tôn trọng và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật. Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam đã tham gia và thực hiện báo cáo định kỳ trước các cơ chế của Liên hợp quốc như: UPR, ICCPR,… và chủ động đối thoại với các tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, minh bạch.

2. Nhận diện và phản bác các luận điệu vu cáo về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam

Một là, luận điệu “Hình sự hóa hoạt động tôn giáo” là hoàn toàn sai lệch. Nhà nước Việt Nam chỉ xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật như: Kích động bạo lực, tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không bao giờ xử lý đơn thuần vì lý do tôn giáo. Trường hợp linh mục Đặng Hữu Nam mà AFJV đề cập không liên quan đến quyền tự do tôn giáo mà xuất phát từ việc ông này có các hoạt động lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc sự kiện Formosa, kích động biểu tình, gây rối trật tự. Hơn nữa, chính Giám mục Nguyễn Hữu Long - người có đầy đủ thẩm quyền trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã áp dụng các biện pháp quản lý đối với linh mục Nam hoàn toàn theo nội bộ giáo luật Công giáo, không phải là sự can thiệp của chính quyền.

Hai là, luận điệu “Ngăn chặn tụ tập tôn giáo” là sự bóp méo bản chất. Việt Nam tạo điều kiện cho các hoạt động tụ tập tôn giáo hợp pháp. Việc kiểm soát một số hoạt động tụ tập trái phép, không tuân thủ quy định là nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, điều mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều áp dụng. Không thể nhân danh tôn giáo để bao biện cho các hành vi lợi dụng tụ tập gây rối, phá hoại như những gì xảy ra tại Nghệ An giai đoạn sau sự cố môi trường biển miền Trung.

Ba là, luận điệu “Xâm phạm tài sản tổ chức tôn giáo” là cáo buộc vô căn cứ. Thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo hộ tài sản hợp pháp của các tổ chức tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới với sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp. Nếu có mâu thuẫn liên quan đến đất đai, tài sản, đều được giải quyết theo pháp luật chung, không có sự phân biệt đối xử tôn giáo.

Bốn là, luận điệu “Cưỡng ép từ bỏ tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Không có chính sách, văn bản nào của Nhà nước Việt Nam quy định hoặc khuyến khích việc cưỡng ép từ bỏ tôn giáo. Đây là thủ đoạn tuyên truyền nhằm hạ thấp hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Năm là, luận điệu “Từ chối đơn xin đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân” là vu cáo trắng trợn. Việc đăng ký tổ chức tôn giáo tại Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ, minh bạch nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tránh bị lợi dụng để hoạt động trái pháp luật. Những trường hợp không được cấp phép thường do không đáp ứng đủ điều kiện về pháp lý, nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc có dấu hiệu hoạt động trái pháp luật, chứ không phải vì lý do kỳ thị tôn giáo.

Tóm lại, AFJV được thành lập tại Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “bảo vệ công lý”, nhưng thực chất là công cụ chính trị nhằm xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF - tổ chức liên tục đưa Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) về tự do tôn giáo - cũng đã nhiều lần bị các chuyên gia quốc tế và ngay cả nội bộ Mỹ chỉ trích về sự thiên lệch, thiếu khách quan, sử dụng tiêu chí kép để gây sức ép chính trị. Những cáo buộc cho rằng Việt Nam “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” là thiếu căn cứ, bóp méo bản chất sự việc, phục vụ ý đồ chính trị của một số tổ chức, cá nhân cực đoan. Việt Nam kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái này, đồng thời khẳng định cam kết tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo hợp pháp, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước./.

Cái nhìn thiển cận của Vũ Đức Khanh

 

Cái nhìn thiển cận của Vũ Đức Khanh

            Trên trang Việt Tân, Vũ Đức Khanh đã đăng tải bài viết “Con đường Việt Nam trong thế kỷ XXI: Lựa chọn giữa Tự do hay Chuyên quyền”, với những luận điệu hết sức thiển cận và vô lý, mang tính chất xuyên tạc, phản động, chống phá Đảng, chống phá nền độc lập, tự do của dân tộc, đi ngược với những thành quả phát triển trong 80 năm qua ở nước ta.

1. Luận điệu cho rằng, Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập 02/9/1945 là giành độc lập dân tộc - nhưng chưa bao giờ có một cuộc cách mạng thực sự để giành lại quyền làm người và quyền làm công dân cho từng người dân. Đây là luận điệu hết sức sai trái, xuyên tạc. Chúng ta cần phải khẳng định, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, đất nước ta. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ gần 90 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập “Đưa người nô lệ thành người tự do”. Lần đầu tiên tên nước Việt Nam có trên bản đồ thế giới, với tư cách và vị thế của một quốc gia, dân tộc tự do độc lập, có chủ quyền mà trước đó, trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân ta đã tự “làm chủ vận mệnh” của mình; trở thành nguồn động viên to lớn để nhiều dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập. Trong lời thoái vị của vua Bảo Đại - Vị vua cuối cùng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đọc trước sự chứng kiến của hàng vạn người dân mít tinh trước cửa Ngọ Môn, kinh thành Huế ngày 30/8/1945, ông đã phát biểu rằng “thà được làm dân của nước tự do hơn làm vua của nước nô lệ”.

2. Luận điệu cho rằng, cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, dù mở đầu của ngôn ngữ tự do, cuối cùng lại kết thúc bằng sự thống trị của một đảng duy nhất. Đây là lời lẽ hết sức phản động, kính động, xuyên tạc. Bởi lẽ, một đảng đã chứng minh giá trị trong lịch sử, đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và ngày nay càng khẳng định vai trò lãnh đạo đất nước đến vị thế cao trên trường quốc tế, vững bước để tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tám mươi năm qua, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết đấu tranh, lao động cần cù, sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách; đất nước giành được nhiều thắng lợi vẻ vang và không ngừng phát triển. Đến nay, nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; kinh tế tăng trưởng khá; chính trị, xã hội ổn định; văn hóa, xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao. Theo Nghị quyết số 158/2024/QH15 của Quốc hội: tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5 - 7,0% và phấn đấu khoảng 7,0- 7,5%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.900 USD; Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới khoảng 80,5 - 81,5%, v.v. Nhiều học giả người nước ngoài có dịp đến Việt Nam và nghiên cứu về Việt Nam đã cho rằng Việt Nam rất thành công và đạt được nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến con người như chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ.

Như vậy, các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 02/9/1945 và thực tiễn phát triển của đất nước càng phơi bày sự vô lương tâm, thiếu hiểu biết, thiển cận của Vũ Đức Khanh và các thế lực thù địch. Thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân và đất nước ta ngày càng được phát triển là những minh chứng bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn phản động, xuyên tạc của chúng./.

Sự hiểu biết “mơ hồ”của Phạm Đình Trọng về chủ nghĩa xã hội

 

Sự hiểu biết “mơ hồ”của Phạm Đình Trọng về chủ nghĩa xã hội

           Trên trang “Baotiengdan”, Phạm Đình Trọng có bài viết “Cái đuôi của chính trị”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động về chủ nghĩa xã hội nói chung và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng. Phạm Đình Trọng cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới… Ở Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội là cuộc chiến tranh ý thức hệ đẫm máu…gây li tán sâu sắc cả dân tộc Việt Nam”. Đây là những luận điệu thể hiện rõ sự mơ hồ có chủ đích của Phạm Đình Trọng, bởi vì sự thật lịch sử không phải như vậy:

Một là, chủ nghĩa xã hội được hình thành, phát triển trên mảnh đất hiện thực khoa học và cách mạng. Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng và một phong trào chính trị nhằm xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người đều bình đẳng về kinh tế và chính trị; không còn áp bức, bóc lột, bất công. Với thiên tài bẩm sinh, trí tuệ uyên bác, đắm mình vào hoạt động thực tiễn của giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động C.Mác, Ph.Ănghen, V.I. Lênin đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học; từ lý luận trở thành hiện thực. Thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, trở thành lực lượng đối trọng với chủ nghĩa tư bản. Những thành tựu mà Liên Xô và các nước Đông Âu đạt được về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, quân sự; đặc biệt trong cuộc chiến tranh vệ quốc cứu nhân loại khỏi thảm hoạ diệt chủng của chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ hai là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX khi bước vào cải tổ, cách cách Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối dẫn đến sụp đổ. Song có thể khẳng định, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Ðông Âu trước đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, chứ không thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, không phải do sai lầm trong lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin mà chỉ là “bước thụt lùi tạm thời”. Bởi sự nghiệp đổi mới, cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay như: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba… với khoảng 1,5 tỷ người đã nói lên sức sống và giá trị thời đại của nó tiếp tục được khẳng định trong tương lai là một chế độ xã hội ưu việt nhất trong lịch sử nhân loại.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn duy nhất đúng. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xác định mục tiêu cách mạng, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Đảng lãnh đạo cách mạng và được tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Nam thừa nhận. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã giành những thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhân dân được hưởng nền độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước, sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam càng được thử thách và khẳng định, đưa Việt Nam có “thế và lực” mới, đất nước “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Hiện nay, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, kinh tế tăng trưởng khá và trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo, là điểm sáng về giảm nghèo trên thế giới; thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới; có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; là một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới; quy mô kinh tế tăng gấp 100 lần so với năm 1986. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 100 USD lên gần 5000 USD, nằm trong nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Mỗi người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào quan điểm, đường lối phát triển đất nước luôn cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không nghe, không tin những thông tin sai trái, phản động đi ngược lại với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Đảng luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết

 

Đảng luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết

        Trên trang “Doithoaionline”, Phạm Đình Bá đăng tải bài viết với tiêu đề: “Nếu Đảng Cộng sản mở mắt ra, sẽ thấy nhiều thứ”. Y cho rằng: “Những khủng hoảng chồng chéo và đau khổ trong xã hội là do Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lợi ích của thiểu số trong Đảng lên trên phúc lợi của toàn dân”. Đây là một luận điệu không chỉ sai về bản chất, lệch về logic, mà còn gây bất ổn xã hội nếu không kịp thời đấu tranh, phản bác.

       1. Luận điệu của Phạm Đình Bá là phi lý và phản thực tế. Như chúng ta đã biết, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lợi ích của một nhóm thiểu số trong Đảng lên trên phúc lợi nhân dân, thì làm sao đất nước Việt Nam từ tro tàn chiến tranh, có thể vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, duy trì tăng trưởng GDP bền vững hàng năm, và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một “hình mẫu phát triển hậu xung đột” điển hình? Chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo công cuộc đổi mới, bắt đầu từ năm 1986. Đây là dấu mốc, là bước ngoặt vĩ đại mang lại sự chuyển mình toàn diện cho đất nước. Đảng ta đã chấp nhận đổi mới tư duy, thay đổi mô hình phát triển, dám “tự sửa mình” để dân tộc Việt Nam được ấm no, tự do, hạnh phúc. 

       Trong những năm qua, nếu Đảng vì thiểu số, sao lại quyết liệt phát động và duy trì công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, mà nhiều người gọi là “lò lửa đốt không có vùng cấm”? Bao nhiêu cán bộ cấp cao đã bị xử lý, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng, những tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, những người từng giữ trọng trách trong Đảng? Những con người đó có phải chính là “thiểu số trong Đảng” mà luận điệu kia định ám chỉ?

       2. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện lợi ích toàn dân, luôn tự soi, tự sửa để hoàn thiện, phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, Đảng Cộng sản không đại diện cho quyền lực của một giai cấp thiểu số, mà là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc. Tổ chức Đảng không tồn tại để ưu đãi nội bộ, mà để dẫn dắt toàn xã hội tiến bộ. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là “vì lợi ích của đất nước, của Nhân dân”. Mọi chính sách, pháp luật, kế hoạch phát triển quốc gia đều xoay quanh một trục trung tâm là Nhân dân, lấy dân làm gốc. Từ nghị quyết trung ương đến chính sách cụ thể, luôn lấy hạnh phúc của người dân là thước đo của thành công chính trị. Đây không phải là khẩu hiệu, mà là nguyên lý tổ chức quyền lực kiểu mới, quyền lực gắn liền trách nhiệm với nhân dân. Thực tiễn hiện nay, chúng ta không ai phủ nhận rằng đất nước còn nhiều khó khăn; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất; một số chính sách còn chậm thay đổi. Nhưng quy kết toàn bộ trách nhiệm cho “Đảng đặt quyền lợi thiểu số lên trên phúc lợi toàn dân” là sự đánh tráo khái niệm trắng trợn. Chính Đảng đã nhận diện thẳng thắn trong các văn kiện rằng: Có tình trạng “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, có biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhưng quan trọng là: Đảng không né tránh. Đảng chủ động nhận khuyết điểm, đề ra giải pháp, hành động cụ thể và mạnh mẽ hơn bất kỳ đảng cầm quyền nào ở các quốc gia khác trong việc làm trong sạch bộ máy.

       Những người như Nguyễn Đình Bá tung ra luận điệu trên thường không quan tâm đến nỗi đau của dân, mà lợi dụng khó khăn của dân để thổi bùng tâm lý chống đối, nhằm xuyên tạc bản chất của chế độ, kích động chia rẽ nội bộ, làm suy yếu niềm tin của nhân dân với Đảng. Chúng chỉ nhìn vào biểu hiện cá biệt của một vài phần tử suy thoái để phủ nhận vai trò toàn diện và thành tựu to lớn của một Đảng gần 100 năm gắn bó với dân tộc, từ trong chiến hào kháng chiến đến thời kỳ hội nhập và phát triển. Đó là hành vi thổi phồng thiếu sót để phá hoại chính trị chứ không phải hành động góp ý xây dựng như chúng vẫn ngụy trang.

       Niềm tin của nhân dân Việt Nam dành cho Đảng không phải là niềm tin mù quáng, mà là niềm tin có cơ sở từ thực tiễn lịch sử, lý luận chính trị và đạo lý dân tộc. Những ai thực sự vì Nhân dân, hãy cùng Đảng sửa sai, khắc phục khuyết điểm, thúc đẩy đổi mới. Còn những kẻ đội lốt “nhân danh Nhân dân” như Phạm Đình Bá để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, dù chúng có núp dưới vỏ bọc nào, rồi cũng sẽ bị lịch sử và nhân dân đào thải. Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn là lực lượng duy nhất hiện nay đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để lãnh đạo đất nước vững bước tiến lên cùng toàn quân và toàn dân bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam./.


Bản báo cáo thiếu khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

 

Bản báo cáo thiếu khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

         Ngày 12/8/2025, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo tình hình nhân quyền năm 2024 của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Giống như báo cáo thường niên các năm trước, tài liệu này tiếp tục đưa ra những nhận định tiêu cực, phản ánh không đúng về tự do ngôn luận, báo chí, internet và tôn giáo ở Việt Nam.Ngay sau khi công bố, bản báo cáo đã nhận nhiều ý kiến chỉ trích từ các chuyên gia về tính thiên lệch và động cơ chính trị đằng sau cách chọn lọc dữ kiện.

Lễ hoa đăng kĩnh mừng Phật đản tại chùa Pháp Hoa,
Thành phố Hồ Chí Minh thu hút đông đảo phật tử,
người dân tham dự (Ảnh: BTC)

Theo các chuyên gia, cách thức trình bày bản báo cáo năm nay từ Bộ Ngoại giao Mỹ có nhiều điểm bất hợp lý, như cấu trúc bị cắt xén, bỏ qua nhiều chủ đề vốn là trọng tâm trong đánh giá quyền con người như quyền của phụ nữ, người khuyết tật, chống tham nhũng hay quyền hội họp ôn hòa. Đồng thời, bản báo cáo cũng vấp phải sự chỉ trích từ một số tổ chức nhân quyền lẫn giới chuyên gia về tính thiên lệch và động cơ chính trị đằng sau cách sử dụng dữ liệu để đánh giá, vì vậy “bản báo cáo lẫn lộn giữa sự thật, đánh tráo và tô hồng”; “cách lựa chọn quốc gia mang màu sắc chính trị khiến công cụ giám sát truyền thống của Quốc hội Mỹ suy giảm độ tin cậy”, v.v.

Thí dụ trong việc chọn lọc nguồn thông tin để kiểm chứng, mặc dù đưa ra cáo buộc với một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhưng văn bản chỉ dùng cụm từ chung chung đó là “có báo cáo đáng tin cậy” mà thiếu dẫn chứng cụ thể hoặc phớt lờ những số liệu chính thống vốn là yêu cầu có tính bắt buộc. Bởi vậy bản báo cáo bị đặt dấu hỏi về tiêu chí, sự độc lập, và tính khách quan.

Bày tỏ quan điểm về vấn đề này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Báo cáo nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ, công bố ngày 12/8, chưa phản ánh được các thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người. Báo cáo tiếp tục đưa ra những nhận định không khách quan, dựa trên thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng về tình hình thực tế tại Việt Nam”.

Thực tiễn đã chứng minh, 80 năm qua, kể từ khi thành lập nước cho đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Cụ thể Hiến pháp 2013, tại Chương II quy định các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó Điều 14 khẳng định: “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Các điều từ 15 đến 26 quy định cụ thể quyền tự do ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng, tôn giáo, cư trú, đi lại, bình đẳng giới,... các nội dung này đều được luật hóa, như Luật Báo chí 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016; Luật An ninh mạng 2018, v.v.

Những thành tựu về quyền con người ở Việt Nam gắn liền với những cải cách thể chế, kinh tế-xã hội, và có chiều sâu: từ xóa đói giảm nghèo, mở rộng giáo dục, y tế đến bảo đảm an sinh cho nhóm yếu thế. Một trong những minh chứng đó là tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt mức cao và liên tục tăng: năm 2023 là 93,2%, năm 2024 là 94,1% và năm 2025 là 95,15% dân số được tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, rộng khắp. Về xóa nghèo, các báo cáo nghèo đa chiều cấp quốc gia cho thấy tỷ lệ nghèo tiếp tục xu hướng giảm: năm 2024 tỷ lệ nghèo đa chiều chung toàn quốc là 4,06%, giảm 1,65% so với năm 2023.

Ngân hàng Thế giới (WB) mô tả Việt Nam là câu chuyện thành công nổi bật về đổi mới, chuyển đổi và giảm nghèo, đồng thời chỉ ra rằng chính sách của Việt Nam đã hướng đến các nhóm dễ tổn thương, phù hợp tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Còn ở bình diện phát triển con người, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Thường trú của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam ghi nhận: “Việt Nam đã duy trì vị thế là một quốc gia có sự phát triển con người cao trong suốt những năm tháng khó khăn của đại dịch Covid-19. Phát triển con người tiếp tục là một trọng tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam, và chúng ta đã thấy những tiến bộ rất đáng kể trong vài thập kỷ qua”.

Theo báo cáo của UNDP năm 2023 chỉ số HDI của Việt Nam đạt 0,766, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Từ năm 1990-2023, chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng 53,5%, đây là một bước tiến ngoạn mục. Những con số này không chỉ phản ánh nỗ lực nội tại mà còn là minh chứng trong việc Việt Nam quan tâm, bảo vệ quyền cơ bản như quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe và quyền phát triển, đặc biệt với phụ nữ, trẻ em và người khuyết tật - những lĩnh vực mà báo cáo nhân quyền năm 2024 của Bộ Ngoại giao Mỹ đã bỏ qua, dẫn đến sự đánh giá thiếu toàn diện.

Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã hai lần được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 – 2016 và 2023 - 2025), điều này cho thấy sự tin cậy của cộng đồng quốc tế với Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền. Đáng chú ý tại chu kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) lần thứ tư, phiên đối thoại tháng 5/2024 và thông qua kết quả tháng 9/2024 ghi nhận Việt Nam chấp nhận 271/320 khuyến nghị - tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong bốn chu kỳ, phản ánh thái độ cầu thị và tinh thần cải cách thông qua cơ chế đa phương.

Quay trở lại với bản báo cáo gây tranh cãi của Bộ Ngoại giao Mỹ, báo cáo không đặt Việt Nam trong bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù, nhất là khi đánh giá các quyền vừa đòi hỏi mở rộng không gian tự do, vừa phải gắn với yêu cầu thượng tôn pháp luật và bảo vệ an ninh, trật tự. Liên quan đến hai nội dung nổi bật mà trong bản báo cáo đề cập tới đó là tự do internet và tự do tôn giáo ở Việt Nam, báo cáo đã đưa ra những đánh giá không phản ánh đúng tình hình thực tế. Như vấn đề tự do internet, Việt Nam lựa chọn con đường “mở có trách nhiệm”: theo đó mở rộng truy cập, kỹ năng số và dịch vụ số cùng với việc thiết lập rào chắn pháp lý trước tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên biên giới, xâm phạm trẻ em, kích động thù hằn, khủng bố mạng. Luật An ninh mạng và Nghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân 2023 là thí dụ điển hình về nỗ lực tìm điểm cân bằng giữa quyền riêng tư, tự do biểu đạt và an ninh cộng đồng. Tại Liên minh châu Âu hay các nền dân chủ phát triển cũng đang xử lý bài toán này bằng những bộ khung như GDPR (Luật bảo mật và quyền riêng tư dữ liệu mới của châu Âu), DSA (Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số), v.v. Báo cáo cũng bỏ qua những nỗ lực của Việt Nam trong việc chuyển đổi số, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số đến năm 2030.

Với những chính sách kịp thời, đúng đắn, Việt Nam trở thành điểm sáng trong khu vực về chính phủ số và hạ tầng. Việc người dân có thể chủ động đăng ký kinh doanh trực tuyến, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế dùng căn cước công dân, hay cổng dịch vụ công tích hợp… cho thấy internet ở Việt Nam không chỉ là “không gian biểu đạt ý kiến” (năm 2024 Việt Nam có hơn 72 triệu người sử dụng mạng xã hội, chiếm khoảng 73% dân số) mà còn là hạ tầng thực thi quyền cơ bản của công dân, mang lại điều kiện sống ngày càng dân chủ, văn minh hơn.

Trong lĩnh vực tôn giáo, năm 2024, diễn ra nhiều hoạt động tôn giáo sôi nổi như: trao Quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho Hội thánh Tin Lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam (tháng 4); Đại lễ Phật đản 2024 (tháng 5); ngày 13/6/2024 Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đoàn đại biểu các chức sắc, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo; Đại hội đồng Giáo phẩm Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền nam) lần thứ 11 (tháng 7); Đại hội đồng lần thứ IV Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Đại lễ kỷ niệm 100 năm ngày hoằng khai Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (tháng 11), v.v.

          Tính đến tháng 8/2025, cả nước có 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo; 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với trên 27,7 triệu tín đồ. Cùng với Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và các nghị định hướng dẫn tạo khung pháp lý vững chắc và thiết lập cơ chế minh bạch để thực thi quyền tự do tôn giáo, gắn với mục tiêu đoàn kết dân tộc và phát triển đất nước.

Việt Nam đã tham gia phần lớn các điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc, bao gồm: Công ước ICCPR về quyền dân sự, chính trị; ICESCR về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; CRC về quyền trẻ em; CERD về xóa bỏ phân biệt chủng tộc; CAT về chống tra tấn; CRPD về quyền của người khuyết tật… Từ đây thể hiện sự nhất quán của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn phổ quát của quốc tế và kiên trì mục tiêu phát triển bao trùm, toàn diện về quyền con người.

Cần nhấn mạnh rằng, năm 2023, Việt Nam và Mỹ nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện” vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Tại Tuyên bố chung tái khẳng định các nguyên tắc cơ bản đã được hai bên thống nhất khi xác lập quan hệ Đối tác toàn diện từ năm 2013, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Trên cơ sở đó, nhân quyền cần được xem là lĩnh vực tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Việt Nam luôn bày tỏ thiện chí đón các đoàn, các tổ chức quốc tế tới tìm hiểu thực tế tại Việt Nam, đồng thời sẵn sàng trao đổi thẳng thắn với Mỹ về những khác biệt trên tinh thần xây dựng, qua đó góp phần củng cố lòng tin, làm giàu thêm sự hiểu biết. Những đánh giá không chính xác thiếu khách quan về Việt Nam trong báo cáo tình hình nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ rất cần được điều chỉnh trong những năm tới vì lợi ích của người dân hai nước và vì tương lai phát triển bền vững của mỗi quốc gia./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)