Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2024

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NỖ LỰC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NỖ LỰC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Ngày 29/5 vừa qua, Liên minh Châu Âu (EU) đã công bố báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2023. Trong bản báo cáo này, EU đã đưa ra một số nhận định, đánh giá không đúng về việc bảo đảm thực thi quyền con người ở Việt Nam. Lợi dụng sự kiện này, trên trang “Rfatiengviet”, RFA đã đăng tải bài viết “Báo cáo nhân quyền 2023 của EU: Việt Nam có ít tiến bộ nhưng thừa đàn áp”. Mục đích của RFA là thổi phồng, xuyên tạc, phủ nhận các thành tựu trong bảo vệ và thực thi quyền con người ở Việt Nam. Vu khống, hạ thấp vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề nhân quyền hiện nay.

1. Báo cáo nhân quyền của EU nhận định “Việt Nam có rất ít tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền”.

Đây là nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Bởi lẽ, các quyền con người cơ bản đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam; được bảo vệ, bảo đảm bởi hệ thống văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai hiệu quả trên thực tiễn. Việt Nam đã có những nỗ lực rất lớn nhằm bảo đảm quyền con người, nhất là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó Việt Nam là thành viên. Tính đến năm 2023, Việt Nam đã tham gia 7/9 điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người, 25 công ước quốc tế về quyền lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); đàm phán và chính thức tham gia thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (GCM).

Khi nói về vấn đề nhân quyền, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người”. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền, quyền và nghĩa vụ của công dân”. Mọi quyết sách đều xuất phát từ con người; mọi thành quả phát triển đều hướng vào bảo đảm tốt nhất quyền con người. Tính riêng năm 2023, kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng trên 5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 3%. Hằng năm, Việt Nam dành trung bình khoảng 3% GDP cho bảo đảm an sinh xã hội. Chỉ trong vòng hơn một thập kỷ gần đây, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng gần 50%, thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tăng cao nhất thế giới.

Những con số khái lược nêu trên đã chứng minh vấn đề nhân quyền ở Việt Nam có nhiều tiến bộ, thể hiện rõ quyết tâm và nỗ lực bảo đảm quyền con người của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Điển hình cho sự tiến bộ ấy là Việt Nam lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 (lần đầu là nhiệm kỳ 2014-2016). Đây là sự công nhận vị thế của Việt Nam, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người.

2. Báo cáo nhân quyền của EU cho rằng: Nghị định số 53/2022/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam “tiếp tục làm sói mòn quyền tự do ngôn luận”.

Nhận định trên là vô căn cứ, phản ánh không đúng về vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng ở Việt nam.

Như chúng ta đã biết, thời gian gần đây, hàng loạt rủi ro, hiểm họa liên tiếp diễn ra trên không gian mạng đã khiến công tác bảo vệ an ninh mạng trở thành một nhiệm vụ cấp thiết tại hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vì vậy, xây dựng hệ thống pháp luật về an ninh mạng có ý nghĩa quan trọng, nhằm bảo đảm việc thực thi các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi, sự cố xâm phạm an ninh mạng.

Xuất phát từ thực tiễn trên, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 53/2022/NĐ-CP: Quy định một số điều của Luật an ninh mạng. Việc ban hành Nghị định này là cơ sở quan trọng trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; phát huy hơn nữa các nguồn lực sẵn có trong công tác bảo đảm an ninh mạng. Đồng thời, phát triển lĩnh vực an ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Sau khi nghị định này có hiệu lực, vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng ở Việt Nam vẫn được phát huy đầy đủ, internet có mặt ở mọi nơi. Tính đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng internet, chiếm 79,1% dân số; có 70 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 71% dân số. Tổng số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu (164,0% tổng dân số). Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Tỷ lệ người dùng sử dụng internet hằng ngày lên tới 94%.

Dẫu vẫn biết, tự do ngôn luận trên không gian mạng là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, tự do ngôn luận trên không gian mạng cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật nhằm tránh hiện tượng bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân khác, đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia.

Như vậy, Nghị định số 53/2022/NĐ-CP: Quy định một số điều của Luật an ninh mạng của Chính phủ Việt Nam là phù hợp công ước quốc tế về quyền con người, phù hợp với quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Việc EU nhận định rằng, Nghị định số 53/2022/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam “tiếp tục làm sói mòn quyền tự do ngôn luận” là thiếu khách quan và không phản ánh đúng vấn đề tự do ngôn luận trên không gian mạng ở Việt Nam./.

Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới

 

Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm nhận thấy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo khẳng định: Ý chí của nhân dân chính là thành trì vững chắc nhất để giữ nước. Nguyễn Trãi lấy tư tưởng “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” làm nền tảng để phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân, đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi vẻ vang. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Trung thành vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống đại đoàn kết của dân tộc, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc. Nền tảng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Đồng thời, sức mạnh ấy được tạo nên từ mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và nhân dân; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đó còn là sự đoàn kết trong Đảng, giữa các giai tầng xã hội, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước; là sự đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình, tiến bộ trên thế giới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình mới, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân đang đứng trước những thách thức mới. Lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa vững chắc. Việc tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số… Để kịp thời khắc phục những tồn tại trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023, Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết xác định mục tiêu: “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Hiện thực hóa mục tiêu đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành cần chủ động tổ chức tốt việc nghiên cứu, học tập và quán triệt đầy đủ, sâu sắc nội dung cốt lõi của Nghị quyết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Triển khai thực hiện Nghị quyết bằng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời làm tốt một số nội dung biện pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc; về vị trí, tầm quan trọng của phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới. Từ đó, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng và hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, và nhân dân về củng cố, tăng cường và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, kiên quyết, kiên trì thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh theo các Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách về phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới. Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và giải quyết hài hoà lợi ích trong xã hội.

Bốn là, thực hiện tốt công tác nắm bắt dư luận xã hội, chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp, kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo góp phần tuyên truyền, vận động, tạo đồng thuận xã hội, động viên nhân dân tham gia tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của địa phương, đất nước; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Năm là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng cơ chế phù hợp để nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước, những vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống của người dân. Các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước nêu cao tinh thần cầu thị, tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của nhân dân theo quy định.

Cùng với triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Trung ương, nhân dân ta cần nâng cao cảnh giác, tỉnh táo trước những luận điệu vu khống, xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động muốn phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm làm cho đất nước ta, dân tộc ta suy yếu “từ bên trong”. Trong bối cảnh phức tạp của tình hình hiện nay, chỉ có “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mới tạo nên sức mạnh vô địch, giúp dân tộc ta, đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức để phát triển toàn diện, bền vững./.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA VIỆT NAM TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA VIỆT NAM TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ

Như thành thông lệ, hằng năm RSF (tổ chức phóng viên không biên giới) lại công bố cái gọi là báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí”. Năm nay, tổ chức này xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí – thuộc “vùng trũng của tự do báo chí”. Đây không phải là lần đầu tiên RSF đưa ra bảng xếp hạng và  những nhận định phiến diện, thiếu khách quan, xuyên tạc những thành quả của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do báo chí, bất chấp thực tế đời sống báo chí ở Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, chuyên nghiệp và hiệu quả.

Bảo đảm quyền tự do báo chí là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

 Ngay tại Điều 10 trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành (năm 2013) tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hay tại Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”. Theo đó, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân là quyền được tự do có quan điểm và giữ vững quan điểm của mình, cũng như được tự do tìm kiếm và tiếp nhận, chia sẻ thông tin nhưng phải nằm trong giới hạn mà pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Trên cơ sở hành lang pháp lý được quy định rõ ràng, cụ thể, thực tiễn hoạt động của báo chí Việt Nam những năm qua rất sôi động với nhiều thành tựu nổi bật. Báo chí thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân. Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí của nhân dân được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

 Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, đến năm 2023, cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, tăng gấp 6 lần so với năm 2000.

Về khía cạnh quyền tự do internet, sử dụng mạng xã hội, theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 9/2022, ở Việt Nam, hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã; số người dùng internet là 72,1 triệu người, chiếm khoảng 73,2% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á. Đây là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam được bảo đảm.

Việt Nam cam kết thực hiện nghiêm túc quyền tự do báo chí theo Hiến chương Liên Hợp quốc và các nghị định, hiệp ước quốc tế, khu vực liên quan.

Có thể thấy, Việt Nam là một trong những nước đã tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của 7/9 công ước cơ bản của Liên Hợp quốc về quyền con người; 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam luôn cam kết và nỗ lực thực hiện nghĩa vụ theo các công ước đã tham giao, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)… Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp.

Từ những minh chứng trên cho thấy, trong suốt tiến trình phát triển của đất nước, việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Còn những nhận định, quy chụp của RSF là hoàn toàn phiến diện, thiếu khách quan và không phản ánh đúng về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ kịp thời./.

Cảnh giác với luận điệu vu khống, dựng chuyện của Hiếu Chân

 

Cảnh giác với luận điệu vu khống, dựng chuyện của Hiếu Chân

Tiếp nối những bài viết lợi dụng tình hình tham nhũng, mới đây trên trang “Thongluan-rdp”, Hiếu Chân đã tung ra bài viết với tựa đề: Đốt lò: Chống tham nhũng hay thanh chừng nội bộ? Với những lý lẽ, lập luận xảo ngôn, ngụy biện, Hiếu Chân đã đưa ra một số nhận định, đánh giá phiến diện, lệch lạc, mang tính chất bịa đặt, không đúng sự thật về công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam nào là những vụ đổi ngôi trên thượng tầng chính trị gần đây, ai cũng thấy công cuộc đốt lò đã biến thành một cuộc thanh trừng nội bộ, tranh chức, tranh quyền, xa rời mục tiêu chống tham nhũng; công việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được trao cho các phó ban, chủ yếu là cho Bộ trưởng Công an; thẩm quyền điều tra, truy tố và bắt giam là đặc quyền của Bộ Công an; hoạt động của Bộ Công an bao chùm lên mọi mặt của đời sống xã hội, dòm ngó tới từng người dân; không chỉ Ban Chỉ đạo mà cả Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương đều có thể trở thành “con tin” trong bàn tay thao túng của Bộ Công an.

Những luận điệu trên đây của Hiếu Chân cũng như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong xuốt thời gian vừa qua là cố tình đổi trắng thay đen khi cho rằng việc Đảng và Nhà nước nhiều lần phát động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực chất chỉ là thanh chừng nội bộ hay đấu đá giữa các phe phái với nhau . Nguy hại hơn, trước thời điểm các kỳ đại hội, hay bất kỳ quyết định nhân sự quan trọng của Đảng, Nhà nước, chúng lại vẽ vời, thêu dệt, tung ra những nhận định không khách quan về công tác cán bộ hòng xuyên tạc, gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong xã hội, như cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quá trình thanh trừng, đấu đá, tranh giành quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế giữa các “phe phái”; “thôi chức”, “miễn nhiệm” theo nguyện vọng cá nhân hay khả năng đảm nhiệm công việc được giao phó chỉ là cái “bình phong” che đậy.

Thực tế, chúng ta điều biết rằng việc “cho thôi”, “miễn nhiệm” là một trong những dấu ấn nổi bật, có tính đột phá trong việc kết hợp chặt chẽ giữa học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chỉ rõ hiện nay chưa có cơ chế đánh giá phù hợp và thay thế kịp thời cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đánh giá “Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khỏe”… Đặc biệt, Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định về “miễn nhiệm” và “từ chức”. Quy định này đã góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về vấn đề miễn nhiệm, từ chức thành các quy định cụ thể; đồng thời, đây chính là cơ sở để ứng xử văn minh trong miễn nhiệm, từ chức, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phù hợp với kỳ vọng của nhân dân. Có thể thấy, việc cho “thôi chức” đối với cán bộ cấp cao là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình “xây” kết hợp với “chống”, vừa “xây”, vừa “chống” nhuần nhuyễn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời, khi đã có hạn chế, khuyết điểm hay khi thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác được đảm nhiệm… cán bộ mạnh dạn “từ chức” và “từ chức” trở thành văn hóa, thể hiện tính liêm sỉ và giá trị công bộc của cán bộ, đảng viên.

Phải khẳng định rằng, những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền “tự soi”, “tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Điều đó, cũng làm cho các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam thời gian qua thể hiện rõ dã tâm chính trị hòng hạ thấp vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu.

Hiện nay, nhờ đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà nhiều sai phạm của không ít cán bộ, đảng viên đã được xử lý, nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực phức tạp được giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” tồn đọng trong thời gian dài. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giờ đây thật sự đã trở thành phong trào, nhận được sự hưởng ứng của toàn xã hội và đang là một động lực to lớn để Việt Nam thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA TRÂN VĂN

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA TRÂN VĂN

Mới đây, trên trang “Quyenduocbiet” phát tán bài viết: “‘Dám nghĩ, dám làm’ trong một hệ thống rệu rã” của Trân Văn, cho rằng: “nhiều cán bộ, đảng viên cùng dám đủ thứ như thế còn gì là quốc pháp?”. Đây là luận điệu hết sức sai trái, nhằm hướng lái dư luận có cách nhìn sai lệch về mục đích và ý nghĩa của chủ trương “khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, cả lịch sử và thực tiễn đều bác bỏ những luận điệu sái trái của Y, bởi lẽ:

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có cơ cấu, số lượng hợp lý, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nhiều cán bộ luôn phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và có những đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, có nhiều cán bộ, đảng viên rất tâm huyết, vì nước, vì dân, có tinh thần tiên phong, dám nghĩ, dám làm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định đổi mới, sáng tạo nhằm đạt được mục tiêu vì lợi ích chung. Cố Tổng Bí thư Trường Chinh với đổi mới tư duy kinh tế, khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước năm 1986. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trương động viên, khuyến khích mọi người lao động, mọi năng lực sản xuất, mọi thành phần kinh tế làm cho sản xuất bung ra, cải tiến lưu thông, phân phối để thúc đẩy sản xuất phát triển. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt mạnh dạn vượt qua tư duy cũ kỹ, lạc hậu, có nhiều ý tưởng, đề xuất đã được đưa vào văn kiện Đại hội, góp phần hình thành đường lối đổi mới toàn diện của Đảng. Những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm tiêu biểu nêu trên cùng sự đoàn kết toàn dân tộc đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, ổn định và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.

Hiện nay, trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của tình hình thế giới và khu vực; nước ta đang đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen những khó khăn, thách thức; nhiệm vụ cách mạng và xu hướng phát triển của thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhằm khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì nhân dân phục vụ của đội ngũ cán bộ, thời gian qua Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 “về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Tiếp đó, ngày 29/9/2023 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Mới đây nhất, tiêu chí “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân” đã trở thành một trong những chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới được nêu trong Quy định 144 – QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị. Kết luận 14, Nghị định 73 và Quy định 114 ra đời xuất phát từ sự chín muồi của lý luận, những bài học thực tiễn và được ví như “luồng gió mới” tác động tích cực đến tâm lý xã hội và tạo niềm tin, khát vọng, ý chí phấn đấu vượt khó, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn có tính cấp bách.

Nhiều địa phương như Long An, Hải Phòng, Bắc Giang, Đồng Tháp, đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh, do phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, dám hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân nên luôn là tỉnh dẫn đầu cả nước trên cả hai bảng xếp hạng về Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đây là một điển hình tiêu biểu nhất cho thấy sự đúng đắn của các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm cùng các thử nghiệm mạnh dạn bắt nguồn từ những đòi hỏi thực tiễn của cuộc sống, của tư duy đổi mới và có trách nhiệm. Khảo sát về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá, nếu chính sách, pháp luật có điểm chưa rõ thì chính quyền Quảng Ninh rất ít khi lúng túng, không làm gì cả hay đợi xin được ý kiến chỉ đạo – tỷ lệ này của Quảng Ninh thấp nhất cả nước[1]. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Quảng Ninh nói riêng, cả nước nói chung đã góp đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vào thực tiễn nhanh hơn, đúng hơn, hiệu quả hơn.

Như vậy, luận điệu của Trân Văn đưa ra là hoàn toàn sai trái nhằm phủ nhận sự đúng đắn và những kết quả đạt được từ chủ trương “khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, hòng hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta, qua đó hướng lái, kích động người dân thực hiện các hành vi sai trái, tiếp tay cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.

TẠM ĐÌNH CHỈ CÔNG TÁC: CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG VÀ TIÊU CỰC

 

TẠM ĐÌNH CHỈ CÔNG TÁC: CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG VÀ TIÊU CỰC

Quy định số 148-QĐ/TW ngày 23/5/2024 của Bộ Chính trị về thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới trong trường hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà Bộ Chính trị vừa ban hành là một bước đi cần thiết và hiệu quả để nâng cao đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức. Thế nhưng mới đây, trên trang rfa đã tung ra bài viết “Xử lý bệnh sợ trách nhiệm bằng “tạm đình chỉ công tác” với những luận điệu xuyên tạc, cho rằng “quy định giúp đảng viên có điều kiện đi du lịch, nghỉ ngơi hơn là góp phần chống tiêu cực”. Đây là các quan điểm không phản ánh đầy đủ và đúng đắn tình hình thực tế mà chỉ mang tính chất chống phá của các thế lực thù địch.

Thứ nhất, biện pháp tạm đình chỉ công tác là một công cụ hữu hiệu để ngăn chặn và xử lý các hành vi tiêu cực ngay từ giai đoạn đầu. Khi một cán bộ bị tạm đình chỉ công tác, họ sẽ bị tước bỏ quyền lực tạm thời, không thể tiếp tục các hành vi tiêu cực hoặc tác động lên quá trình điều tra, xác minh. Điều này giúp bảo vệ tính minh bạch, công khai và bảo đảm quá trình điều tra được diễn ra một cách khách quan và chính xác. Việc tạm đình chỉ công tác cũng tạo ra sức ép tâm lý lên các cán bộ, công chức, khiến họ nhận thức rõ ràng hơn về hậu quả của các hành vi vi phạm và từ đó có ý thức chấp hành tốt hơn các quy định pháp luật và đạo đức công vụ. Hơn nữa, theo Điều 81 của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2019), tạm đình chỉ công tác là biện pháp hành chính được áp dụng khi cán bộ, công chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc cần điều tra làm rõ sự việc, cho thấy đây là biện pháp được luật pháp công nhận và sử dụng để bảo đảm sự minh bạch và công bằng.

Thứ hai, biện pháp tạm đình chỉ công tác không phải là một hình thức kỷ luật cuối cùng, mà là một bước đầu trong quy trình xử lý vi phạm của cán bộ, công chức. Sau khi bị tạm đình chỉ, các cơ quan chức năng sẽ tiến hành điều tra, xác minh hành vi vi phạm của cán bộ. Nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng, họ sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo đến cách chức hoặc khai trừ khỏi Đảng theo Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Điều này cho thấy, tạm đình chỉ công tác không phải là điểm dừng mà là khởi đầu cho một quy trình xử lý nghiêm túc và toàn diện. Những chỉ trích cho rằng tạm đình chỉ công tác chỉ là cơ hội để cán bộ nghỉ ngơi và du lịch là thiếu căn cứ, bởi lẽ sau khi bị tạm đình chỉ, cán bộ vẫn phải đối mặt với quá trình điều tra và có thể bị xử lý kỷ luật nếu vi phạm.

Thứ ba, tạm đình chỉ công tác là biện pháp được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, cho thấy tính khả thi và hiệu quả của nó trong quản lý công chức. Ở Singapore, một trong những quốc gia nổi tiếng với hệ thống hành chính công trong sạch và hiệu quả, biện pháp tạm đình chỉ công tác được áp dụng để điều tra các cán bộ bị nghi ngờ vi phạm nghiêm trọng. Điều này, giúp bảo đảm tính minh bạch, công khai và công bằng trong quá trình điều tra, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc trong sạch và lành mạnh. Việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác tại Việt Nam cũng nhằm mục đích tương tự, góp phần xây dựng một nền hành chính công vụ trong sạch, vững mạnh.

Một số ý kiến cho rằng biện pháp tạm đình chỉ công tác không có hiệu quả thực tế và chỉ là hình thức, dẫn chứng bằng việc các chỉ thị từ cấp trên khó thực hiện trong thực tế. Tuy nhiên, nhiều trường hợp đã được xử lý nghiêm minh theo các quy định hiện hành, chẳng hạn như các vụ việc tạm đình chỉ và sau đó xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ liên quan đến các vụ án tham nhũng lớn. Qua đó, cho thấy tính khả thi và hiệu quả của biện pháp tạm đình chỉ công tác khi được thực hiện một cách nghiêm túc và đồng bộ với các biện pháp kỷ luật khác.

Ngoài ra, việc tạm đình chỉ công tác còn có tác dụng cảnh báo và răn đe đối với các cán bộ, công chức khác, giúp họ nhận thức rõ ràng hơn về trách nhiệm của mình và chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật và đạo đức công vụ. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng công vụ và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng của nhân dân và xã hội.

Nhìn chung, biện pháp tạm đình chỉ công tác là một giải pháp cần thiết, hiệu quả trong bối cảnh hiện nay để ngăn ngừa hành vi tiêu cực và nâng cao trách nhiệm công vụ. Những chỉ trích về biện pháp này thiếu căn cứ vững chắc và không xem xét toàn diện các khía cạnh của vấn đề. Thay vì coi đây là biện pháp hình thức, chúng ta cần nhìn nhận nó như một bước đi quan trọng trong quy trình xử lý vi phạm, bảo đảm tính minh bạch, công khai và công bằng.

Quy định số 148-QĐ/TW ngày 23/5/2024 của Bộ Chính trị về thẩm quyền của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ cấp dưới trong trường hợp cần thiết hoặc khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước là một giải pháp quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay để nâng cao trách nhiệm công vụ và ngăn chặn các hành vi tiêu cực. Những ý kiến chỉ trích biện pháp này thiếu căn cứ vững chắc và không xem xét toàn diện các khía cạnh của vấn đề. Chúng ta cần nhận diện rõ các luận điệu xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội tại Việt Nam, bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch, từ đó kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.

Đảng không đứng ngoài, đứng trên pháp luật

 

Đảng không đứng ngoài, đứng trên pháp luật

Thời gian gần đây, trên nhiều trang mạng xã hội, các lực lượng thù địch, phản động đăng tài nhiều thông tin, bài viết cho rằng, “Đảng đứng ngoài, đứng trên pháp luật”, hòng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bài viết “Theo tôi thì đây là một cuộc “thanh lọc cần thiết”, với cái nhìn sai trái, lệch lạc, Quê Hương đã hồ đồ cho rằng, “đảng ở ngoài, đứng trên pháp luật”, “đảng viên là bất khả xâm phạm”… Đây là luận điệu sai trái, hòng xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, cần phải đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc khẳng định vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền được chế định trong Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chính sách; Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng thông qua chức năng quản lý nhà nước, thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Hiến pháp, pháp luật chính là đường lối, chính sách của Đảng được thể chế hóa.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền duy nhất, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam, nhưng Đảng không đứng ngoài, đứng trên Hiến pháp và pháp luật. Đảng không những phải tôn trọng, mà còn phải chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, pháp luật, bình đẳng như mọi chủ thể chính trị khác. Tổ chức, sinh hoạt của Đảng phải phù hợp với các thiết chế do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với các chế định của Hiến pháp, pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được quy định trong Hiến pháp, nhưng sự lãnh đạo của Đảng không được trái với Hiến pháp, cản trở việc thực thi Hiến pháp và pháp luật. Mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên không những phải nghiêm chỉnh chấp hành, mà còn phải gương mẫu trong chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Đảng, vừa đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với Đảng. Một mặt, bằng các quy định của những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý, công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam; công nhận sự hoạt động hợp pháp của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Mặt khác, từ sự thể chế hóa này, hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên được pháp luật bảo vệ, giúp Đảng giữ được vị trí cầm quyền, bảo đảm mọi chủ trương, chính sách của Đảng được thể chế hóa và thực hiện có hiệu quả trên thực tế.

Thực tế quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, mọi hoạt động của Đảng đều trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đó là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, chứ không phải “đảng ở ngoài, đứng trên pháp luật” như sự xuyên tạc của Quê Hương.

Thứ hai, tổ chức đảng, đảng viên sai phạm đều bị xử lý theo quy định.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định: Bắt buộc các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế độ của cơ quan nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.

Thực tế những năm qua cho thấy, với quan điểm kiên quyết, kiên trì, không có điểm dừng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, nếu vi phạm kỷ luật, pháp luật đều bị xử lý công bằng, nghiêm minh. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra và xử lý nghiêm minh nhiều tổ chức đảng và đảng viên do tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Không phân biệt người đó là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, cán bộ cấp cao, hay chỉ là đảng viên không giữ chức vụ gì, họ đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có những trường hợp vi phạm đã bị xử lý hình sự.

Theo thông báo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, từ đầu năm 2024 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong các vụ án, vụ việc do Ban Chỉ đạo theo dõi chỉ đạo, vi phạm do suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã hoàn thành 7/8 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 7 tổ chức đảng liên quan đến các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Qua kiểm tra đã xử lý kỷ luật đối với 68 tổ chức đảng, 104 đảng viên, trong đó có 20 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; chỉ đạo 68 cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành kiểm tra 830 dự án, gói thầu liên quan đến công ty AIC, kỷ luật 65 tổ chức đảng, 127 đảng viên, chuyển cơ quan điều tra 26 vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

Thực tế trên cho thấy, đảng viên vi phạm pháp luật cũng đều bị xử theo đúng quy định của pháp luật, không có chuyện đảng viên “bất khả xâm phạm” như sự xuyên tạc của Quê Hương.

Để bảo đảm vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chủ trương, chính sách; tổ chức và hoạt động của Đảng luôn trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Kiên quyết, kiên trì xử lý nghiêm những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, những vi phạm. Không có chuyện tổ chức đảng và đảng viên đứng ngoài pháp luật và bất khả xâm phạm như sự xuyên tạc của các lực lượng thù địch, phản động./.