Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

 

Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay

Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã nhất tề đứng lên lật nhào ách thống trị tàn bạo của phát - xít Nhật, giành độc lập cho dân tộc. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu); Nguồn: dangcongsan.vn.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 

Trải qua 77 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, từng bước đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thành quả vĩ đại và những bài học lịch sử vô giá của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành động lực và sức mạnh to lớn và là hành trang để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.
 
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra Đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên hành trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sau Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước hoàn thiện, cụ thể hóa đường lối đổi mới và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ một đất nước với cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn mình trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; Nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; độc lập, chủ quyền được bảo đảm; vị thế và uy tín đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế.

Quy mô kinh tế Việt Nam tăng gấp 12 lần; thu nhập bình quân đầu người tăng 8,3 lần, kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng 29,5 lần, đưa Việt Nam trở thành một trong 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại, cán cân thương mại duy trì xuất siêu năm thứ 6 liên tiếp, đạt khoảng 4 tỷ USD (năm 2021); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 22 lần. Tỉ lệ hộ nghèo cả nước từ 58% năm 1993 xuống chỉ còn 2,23% năm 2021 (tính theo chuẩn mới).

Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu nhập bình quân đầu người/tháng (theo sức mua tương đương - PPP) đạt khoảng 11.040 USD, xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 143 thế giới (năm 2021).
 
Cùng với những kết quả về phát triển kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng lên; trang thiết bị, vũ khí hiện đại, vũ khí công nghệ cao được đầu tư nhằm tăng cường sức mạnh cho lực lượng vũ trang. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 30 nước. Đảng ta đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Việt Nam có quan hệ thương mại với trên 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam đã ký kết và tham gia 15 hiệp định thương mại tự do, trong đó có nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã nâng cao vị thế của Việt Nam: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay[1]. Trên cơ sở những thành tựu đạt được, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”[2]. Đại hội xác định tầm nhìn 5 năm, 10 năm và 25 năm: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.
 
Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm tới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc phải thực hiện tốt những vấn đề sau:
 
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam phải không ngừng nâng cao trí tuệ, bản lĩnh, năng lực lãnh đạo và cầm quyền, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm minh kỷ cương, kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát huy dân chủ, công khai, minh bạch; nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo có tâm, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết.

Thứ hai, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, giai cấp, người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Phát huy vai trò là trung tâm, là chủ thể của Nhân dân trong công cuộc đổi mới. Khơi dậy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước và sức mạnh của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân; phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển như là động lực và nguồn lực để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giáo dục sâu rộng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam phải mở rộng quan hệ với tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - giáo dục, quốc phòng - an ninh, đặc biệt là 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn, các nước ASEAN, châu Á - Thái Bình Dương, liên minh châu Âu... Qua đó, tranh thủ vốn, khoa học kỹ thuật - công nghệ và kinh nghiệm của các quốc gia, đặc biệt là những thành tựu tiên tiến về phát triển kinh tế số.

Thứ tư, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình phức tạp hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải “Kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đi đôi với xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh Nhân dân vững mạnh với một đường lối tổng hợp, kết hợp quân sự với kinh tế và chính sách đối ngoại.

 

Tuyên ngôn Độc lập và 'những lẽ phải không ai chối cãi được'

Với dung lượng 1.017 từ, Tuyên ngôn Độc lập đã nêu lên những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc.

Tuyên ngôn Độc lập và 'những lẽ phải không ai chối cãi được' - Ảnh 1.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Bản Tuyên ngôn thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Đó cũng là lời hịch truyền gửi đến muôn đời con cháu mai sau với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do."

Tuyên ngôn Độc lập - quyền con người thống nhất biện chứng với quyền dân tộc

Ra đời gần 80 năm nhưng Tuyên ngôn Độc lập vẫn mang tính thời sự sâu sắc cả trên bình diện trong nước và quốc tế. Với dung lượng 1.017 từ, Tuyên ngôn Độc lập đã nêu lên những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc; đồng thời lên án đanh thép tội ác của chế độ thực dân, chủ nghĩa phátxít ở Việt Nam, từ đó khẳng định lẽ phải và chính nghĩa của dân tộc Việt Nam về quyền được hưởng tự do và độc lập.

Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm năm 1791.

Từ việc đề cập đến quyền của con người như một sự tất yếu của tạo hóa, không ai có thể xâm phạm được, là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển sáng tạo, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc.

"Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do."

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc.

Việc nâng tầm quyền con người lên thành quyền dân tộc là một sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam, mà còn đối với nhiều dân tộc bị áp bức, bóc lột khác trên thế giới. Đây cũng là cống hiến về nguyên lý lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

Nghiên cứu về Tuyên ngôn Độc lập, giáo sư Singô Sibata (Nhật Bản) cho biết “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình."

Bởi vậy, có thể nói, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn là tuyên ngôn về quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Việc nâng tầm quyền con người lên thành quyền dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một cống hiến về nguyên lý lý luận của Người vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

Kiên định vì độc lập và tự do của đất nước

Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc giữa Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 là kết quả của một quá trình đấu tranh bền bỉ, gian khó nhưng cũng hết sức sáng tạo của cách mạng Việt Nam, đỉnh cao là cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử.

Và Cách mạng Tháng Tám đã thể hiện tài năng kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản Tuyên ngôn Độc lập là sự kết tinh những giá trị tư tưởng, tầm nhìn thiên tài của Người đối với tiến trình phát triển đi lên, đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như sự kiên định vì độc lập và tự do của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định giá trị của độc lập, tự do mà nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh biết bao xương máu mới giành lại được.

“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!."

Người cũng nêu cao quyết tâm chiến đấu bảo vệ và giữ vững quyền thiêng liêng đó của dân tộc: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy."

Tuyên ngôn Độc lập và 'những lẽ phải không ai chối cãi được' - Ảnh 2.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Khi đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam, đặc biệt đưa số lượng lớn quân Mỹ và chư hầu cùng với trang, thiết bị, vũ khí hiện đại vào Việt Nam, leo thang đánh phá miền Bắc với tuyên bố “sẽ đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá,” một lần nữa thể hiện quyết tâm, ý chí, khát vọng độc lập cao hơn hết thảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến đồng bào, chiến sỹ cả nước Lời kêu gọi, trong đó chỉ rõ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do."

Người cũng tin vào tương lai, tin vào chính nghĩa: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn." Và điều đó đã thành hiện thực khi ngày 30/4/1975, chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối, khát vọng về độc lập, tự do, hòa bình của cả dân tộc đã trở thành hiện thực.

Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước không chỉ là thắng lợi của chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà quan trọng hơn, là hoàn thành 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đặt dấu chấm hết cho ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà, mở đường đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là thắng lợi rực rỡ của tư tưởng Hồ Chí Minh về “Không có gì quý hơn độc lập, tự do."

Giá trị lịch sử hôm nay

77 năm đã trôi qua nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc, về khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do, vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội. Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) thuộc nhóm HDI cao của thế giới...

Cùng với đó, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 190 quốc gia trên thế giới; gia nhập và tích cực xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN; tham gia có hiệu quả các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế trên nhiều cấp độ...

Dưới ngọn cờ độc lập và tự do, cách mạng Việt Nam đã vững bước tiến lên, giành được những thắng lợi lịch sử mang tầm thời đại. Đi theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, Đảng ta khẳng định tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...

Trong điều kiện mới, Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; ...; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, Việt Nam trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa."

Tuyên ngôn Độc lập và 'những lẽ phải không ai chối cãi được' - Ảnh 3.

Các tuyến phố ở Hà Nội những ngày này rợp sắc cờ, băng rôn, pano, khẩu hiệu chào mừng 77 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. (Nguồn: Vietnam+)

Với khát vọng phát triển đất nước hùng cường, quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII của Đảng là bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia-dân tộc. Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới cả bề rộng và chiều sâu với một trình độ và chất lượng mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất."

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ 21, cho đến khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 100 năm ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, và 100 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), tình hình thế giới sẽ tiếp tục còn nhiều thay đổi rất nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng chắc chắn giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” sẽ không thay đổi.

77 năm đã qua, nhưng mỗi câu chữ trong Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn đầy sức sống. Khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam vẫn luôn cháy bỏng, tuôn trào từ ngàn đời đến nay và chắc chắn sẽ còn mãi về sau.

 

Kỷ niệm 77 năm Ngày Quốc khánh 2/9 (1945-2022): Tết Độc lập, ký ức và trách nhiệm

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 2/9 hàng năm được người dân cả nước coi như là Tết Độc lập.
z3687636375915_feb8d5b674e0588676e871055ed0a142.jpg

Độc lập hay là chết

Sau khi tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi trên cả nước. Ngày 2/9/1945 tại thủ đô Hà Nội, lễ ra mắt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời dưới sự chúng kiến của hơn 1 triệu người dân Hà Nội và các tỉnh lân cận, với các biểu ngữ nền đỏ chữ vàng khắp các phố phường: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”. “Độc lập hay là chết”. Trên khán đài, đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”...

Những lời lẽ đanh thép trong tuyên ngôn độc lập có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại đối với vận mệnh của dân tộc. Không chỉ tuyên bố với thế giới, mà nó còn vạch trần bộ mặt dối trá và phản bội của thực dân Pháp khi “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Đồng thời bản Tuyên ngôn độc lập là tiếp nối truyền thống anh hùng bất khuất, đánh giặc giữ nước của cha ông và nhân dân ta, khi ẩn và thắm đượm trong đó là một "Nam quốc sơn hà Nam đế cư..", của Lý Thường Kiệt hay "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi...

z3687636375915_feb8d5b674e0588676e871055ed0a142.jpg
Chủ tich Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 

Bài học về giá trị lịch sử cho hôm nay

Xuyên suốt 77 năm qua, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Để sau đó và hôm nay, toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp văn minh. Điều này có thể minh chứng khi hiện tại Việt Nam là nước đứng thứ 5 về GDP trong khu vực Đông Nam Á với GDP khoảng 352 tỷ USD, đứng thứ 39 trong số 207 nền kinh tế trên thế giới. Ngoài ra, Việt Nam đang nằm trong 20 nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại. Người dân được thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ, quyền thụ hưởng an sinh xã hội của mình, để phát triển đời sống kinh tế cá nhân, gia đình và xã hội.

Riêng với Bình Thuận, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh nhà, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên, với những thành tựu khá toàn diện trên  tất cả các lĩnh vực.

Từ một tỉnh rất khó khăn, xuất phát điểm thấp khi thiên tai liên tiếp xảy ra, nắng hạn kéo dài, nhưng bằng các biện pháp tích cực của các chủ trương, chính sách, các phong trào “xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, các phong trào phát triển toàn diện dân sinh, kinh tế - xã hội tất cả các vùng”…đến nay tỉnh không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3,16%, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước.

Trong những ngày này, Bình Thuận long trọng kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh (1992 - 2022) cũng là dịp để nhìn, đánh giá lại chặng đường phát triển đã qua và đặt ra mục tiêu phát triển trên chặng đường mới.
Trong đó mục tiêu hàng đầu là Đảng bộ và nhân dân Bình Thuận phải ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; tích cực đổi mới, sáng tạo; huy động và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực; phát triển toàn diện, trọng tâm là phát triển 3 trụ cột Công nghiệp, Du lịch và Nông nghiệp, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; thực hiện thắng lợi Nghị quyết do Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII; quyết tâm đưa tỉnh Bình Thuận phát triển nhanh và bền vững, mạnh về kinh tế biển, năng lượng và du lịch.

Có thể nói trong giai đoạn mới, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhau, song tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết và phát huy truyền thống cách mạng, những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng; tin tưởng rằng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Thuận sẽ phấn đấu  nỗ lực và đoàn kết chung tay xây dựng tỉnh nhà ngày càng văn minh, giàu đẹp.


 

Vụ FLC, Việt Á, CDC Hải Dương vào danh sách án trọng điểm khẩn trương xét xử

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực yêu cầu khẩn trương xét xử 9 vụ án trọng điểm, trong đó có vụ FLC, Việt Á, CDC Hải Dương, chuyển trái phép qua biên giới 200.000 USD...

Sáng 17/8, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì Phiên họp thứ 22 của Ban Chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kiểm điểm, đánh giá kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2022.

Theo thông báo kết quả phiên họp, BCĐ yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng tập trung hoàn thành các nhiệm vụ theo Chương trình công tác năm 2022 của BCĐ, Kết luận của Tổng Bí thư, Trưởng BCĐ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: QĐND

Trong đó, Tổng Bí thư yêu cầu tập trung chỉ đạo khẩn trương, quyết liệt việc rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, tài chính, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quy hoạch xây dựng,…; trên các lĩnh vực mà các đoàn kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử đã kiến nghị, đề xuất. Hoàn thành xây dựng, trình Bộ Chính trị ban hành các Quy định về kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo kế hoạch.

Nhiệm vụ nữa là chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.

Cụ thể, là phấn đấu đến hết năm 2022 kết thúc điều tra 14 vụ án, ban hành cáo trạng truy tố 20 vụ án, xét xử sơ thẩm 25 vụ án, xét xử phúc thẩm 5 vụ án, kết thúc xác minh, giải quyết 21 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo theo kế hoạch.

Nhất là tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc liên quan đến: Công ty Cổ phần (CP) Công nghệ Việt Á; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao và một số cơ quan liên quan; vụ án xảy ra tại Tập đoàn FLC và một số công ty liên quan; vụ án xảy ra tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh; vụ án xảy ra tại Công ty CP Tiến bộ Quốc tế AIC. 

Ban Chỉ đạo cũng nêu rõ, khẩn trương đưa ra xét xử 9 vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo, gồm:

Vụ án “Đưa hối lộ; Nhận hối lộ; Buôn lậu; Sản xuất, buôn bán hàng giả; In, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước” xảy ra tại tỉnh Đồng Nai và một số tỉnh, thành phố khác.

Vụ án “Thao túng thị trường chứng khoán” xảy ra tại Công ty CP tập đoàn FLC, Công ty Chứng khoán BOS và các công ty có liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Việt Á, CDC Hải Dương và các đơn vị, địa phương liên quan.

Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Dự án Nha Trang Center 2, số 01 Trần Hưng Đạo, thành phố Nha Trang”.

Vụ án “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” xảy ra tại Dự án Nha Trang Golden Gate, 28E Trần Phú, Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang.

Vụ án “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP.HCM.

Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Công ty TNHH MTV Đầu tư và Xây dựng Tân Thuận (Công ty Tân Thuận).

Vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Bệnh viện Mắt TP.HCM.

Vụ án “Buôn lậu; Vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới” (Vụ án Buôn lậu 51 kg vàng và vận chuyển trái phép qua biên giới 200.000 USD) xảy ra tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.    

Ngoài ra, BCĐ cũng yêu cầu hoàn thành kiểm tra chuyên đề việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác phát hiện, chuyển giao, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố các vụ việc có dấu hiệu tội phạm về tham nhũng, kinh tế, tiêu cực và công tác giám định, định giá tài sản trong giải quyết các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế, tiêu cực.

Một nhiệm vụ nữa được BCĐ đề ra là chỉ đạo tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, có nhiều dư luận về tham nhũng, tiêu cực, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, những lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động có tính khép kín, bí mật.

Trong đó, khẩn trương hoàn thành kết luận thanh tra chuyên đề việc mua sắm trang thiết bị, sinh phẩm, kit xét nghiệm, thuốc chữa bệnh phục vụ phòng, chống dịch Covid-19; thanh tra việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần hóa sang kinh doanh bất động sản giai đoạn 2011-2017 và các chuyên đề khác theo Kế hoạch của BCĐ. 

 

Thanh tra Chính phủ nêu giải pháp chặn tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng

Trả lời kiến nghị của cử tri các tỉnh, thành phố, Thanh tra Chính phủ nêu giải pháp nhằm ngăn chặn không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng.

Thanh tra Chính phủ mới đây có báo cáo kết quả giải quyết và trả lời kiến nghị của cử tri TP Đà Nẵng, TP Cần Thơ, tỉnh Bình Dương.

Trước đó, cử tri các địa phương nêu trên kiến nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm chỉ đạo cơ quan chức năng thực hiện có hiệu quả công tác thu hồi tài sản tham nhũng trong thời gian tới. Sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia kiểm soát tài sản, thu nhập, từ đó làm căn cứ thu hồi các tài sản tham nhũng đã bị tẩu tán.

Thanh tra Chính phủ cho biết, trong những năm qua cơ quan chức năng áp dụng nhiều biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các đối tượng phạm tội tham nhũng ngay từ giai đoạn điều tra, không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng.

Cơ quan chức năng cũng khuyến khích người phạm tội tự nguyện giao nộp tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho Nhà nước.

Về việc thu hồi tài sản tham nhũng, Thanh tra Chính phủ cho rằng, đây là một trong những hạn chế trong công tác phòng chống tham nhũng nói chung. Theo đó, nguyên nhân chủ yếu là do số tiền tham nhũng rất lớn nhưng người phải thi hành án không có tài sản hoặc tài sản bảo đảm giá trị thấp. 

Ngoài ra, thời gian giải quyết các vụ án, vụ việc dài, tài sản đã bị tẩu tán, che giấu hoặc tình trạng pháp lý của tài sản chưa rõ ràng và vướng mắc về cơ chế, thể chế trong xử lý tài sản, làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án.

Về giải pháp thu hồi tài sản tham nhũng, Thanh tra Chính phủ cho rằng, cần tăng cường phối hợp, chủ động hơn trong công tác thu hồi tài sản, nhất là việc kê biên, phong toả, tạm giữ, vụ vụ cho việc tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản. Tăng cường hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản tham nhũng trong tố tụng hình sự.

Theo Thanh tra Chính phủ, việc tiếp tục quan tâm kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ cơ quan thi hành án dân sự có vai trò lớn trong việc nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Cùng với đó, kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các cá nhân liên quan trong việc chậm thi hành một số bản án có điều kiện thi hành...

Về đề án Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, Thanh tra Chính phủ cho biết, đơn vị đã trình đề án này lên Thủ tướng. Việc đề án được thông qua có vai trò quan trọng trong phòng, chống tham nhũng nói chung và việc thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng.

 

Triển khai kế hoạch cao điểm “tăng tốc để về đích” chiến dịch cấp căn cước công dân gắn chíp

Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tổng kiểm tra cư trú trên đại bàn tỉnh nêu rõ: được sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Giám đốc Công an Công an tỉnh, các đơn vị Công an trong tỉnh đã nỗ lực, quyết tâm, tập trung lực lượng tổ chức triển khai tích cực, có hiệu quả nhiều biện pháp, giải pháp công tác nghiệp vụ, tăn cường công tác nắm tình hình, tổ chức rà soát, kiểm tra số hộ khẩu, nhân khẩu trên địa bàn.

Toàn cảnh hội nghị

Tính đến ngày 25/8/2022, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh đã kiểm tra được 515.841 hộ và 2.036.041 nhân khẩu (đạt 48,6% so với tổng số hộ phải kiểm tra), trong đó đã có 49 đơn vị Công an cấp xã hoàn thành công tác kiểm tra 100% số hộ, nhân khẩu trên địa bàn. Qua đó, đã rà soát được trên 20 nghìn hộ và gần 250 nghìn nhân khẩu có đăng ký thường trú nhưng hiện không có mặt tại địa phương; 405 hộ, 2.427 nhân khẩu chưa có thông tin trong cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư; trên 27 nghìn nhân khẩu từ đủ 14 tuổi trở lên hiện đang cư trú tại địa phương chưa được làm CCCD gắn chíp điện tử...

Mặc dù kết quả triển khai là tích cực, song qua thực tế công tác tổng kiểm tra cư trú vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần phải kịp thời bổ sung, chấn chỉnh trong công tác nắm người, nắm hộ, phục vụ cho cơ sở dữ liệu về dân cư đảm bảo 4 tiêu chí: đúng, đủ, sạch, sống. Để khắc phục những tồn tại hạn chế này, Công an tỉnh đã triển khai Kế hoạch cao điểm “tăng tốc để về đích” chiến dịch cấp CCCD gắn chíp trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Giám đốc Công an tỉnh chỉ đạo các đơn vị Công an trong tỉnh tập trung huy động tối đa lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật tập trung cao độ mọi nguồn lực và giải pháp để hoàn thành mục tiêu thu nhận triệt để, dứt điểm tất cả các trường hợp có thể thu nhận, hoàn thành trước ngày 30/9/2022. 

CBCS Công an huyện Lang Chánh đến tận nhà  làm  Căn cước công đân cho người già tại xã Lâm Phú

Để hoàn thành tốt mục tiêu này, các đơn vị Công an trong tỉnh, nhất là lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH và Công an các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã tập trung lực lượng, tăng cường rà soát, phân loại, lập danh sách chi tiết đối với từng nhóm thu nhận cụ thể, kết hợp giữa việc thu nhận tại trụ sở các cấp Công an cơ sở với việc thành lập các tổ công tác tổ chức thu nhận lưu động tại địa bàn khu dân cư. Các hồ sơ đủ điều kiện thu nhận phải đảm bảo khẩn trương truyền dữ liệu, còn đối với các hồ sơ chưa đủ điều kiện phải phối hợp ngay với các đơn vị có liên quan để xử lý và thông báo kịp thời cho công dân, tránh để người dân bức xúc phản ảnh, gây ảnh hưởng đến uy tín của lực lượng Công an.

Đại tá Phan Thị Hường, Phó Giám đốc Công an tỉnh nhấn mạnh, kế hoạch cao điểm “tăng tốc để về đích” chiến dịch cấp CCCD gắn chíp là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, cần phải tập trung mọi nguồn lực để sớm hoàn thành. Các đơn vị, lực lượng Công an trong tỉnh cần phân công lực lượng tiếp tục “đi từng ngõ, gõ từng nhà, ra từng người” để nắm và quản lý được toàn bộ số nhân, hộ khẩu, bảo đảm100% công dân từ đủ 14 tuổi trở lên đều được làm CCCD gắn chíp; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng sai sót thông tin trong cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư./.

 

Rộn ràng không khí ngày Quốc khánh ở các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

Nhân kỷ niệm 77 năm ngày Quốc khánh 2/9, cũng như nhiều cơ quan và ngõ phố, đường làng trên địa bàn tỉnh, nhiều cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng thực hiện việc treo cờ Tổ quốc đảm bảo trang trọng và linh thiêng. Treo cờ Tổ quốc tại các cơ sở tôn giáo là hoạt động đã được triển khai thường xuyên, đồng bộ, nhận được sự đồng tình ủng hộ, nhiệt tình tham gia của đông đảo các chức sắc, chức việc, bà con giáo dân và các tín đồ phật tử. 

Các cơ quan chức năng đã chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, cấp uỷ, chính quyền các địa phương từ tỉnh đến cơ sở tổ chức tuyên truyền đến các tín đồ tôn giáo thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc treo cờ Tổ quốc nhân các dịp lễ trọng. Đồng thời, phát động sâu rộng phong trào bảo vệ ANTQ tạo sức lan tỏa niềm vui trọng đại của dân tộc, qua đó đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của hàng ngũ chức sắc và tín đồ tôn giáo trên địa bàn, góp phần tạo khí thế thi đua, tinh thần đoàn kết dân tộc giữa cộng đồng các tôn giáo trên địa bàn toàn tỉnh. 

 
 
 
Một số hình ảnh về không khí ngày Quốc khánh ở các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá 

Treo cờ Tổ quốc là hành động thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là sự gắn bó đồng hành cùng dân tộc và truyền thống đại đoàn kết của các tôn giáo trong lòng dân tộc Việt Nam. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay ở các cơ sở tôn giáo, tuyến đường ở các xóm đạo, nhà ở của giáo dân bên cạnh lá cờ tôn giáo như tiếp thêm sức mạnh của tinh thần đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, cho thấy ý thức trách nhiệm của các chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp./.

Công an Thanh Hóa tiếp tục giữ vững ANTT dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9

Theo đó, các đơn vị, lực lượng Công an trong tỉnh đã huy động lực lượng tăng cường xuống cơ sở vừa làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật, vừa tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và phần tử xấu; trấn áp mạnh đối với các loại tội phạm, bảo đảm tốt ANTT, trật tự ATGT, trật tự công cộng trong dịp nghỉ lễ....

Lực lượng CSGT kiểm tra các phương tiện giao thông
 

Lực lượng Cảnh sát giao thông và Công an các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tăng cường lực lượng thành lập các chốt, tổ tuần tra, kiểm soát, hướng dẫn, phân luồng, phân tuyến, điều tiết chống ùn tắc giao thông, vừa kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự ATGT, trật tự công cộng, nhất là các hành vi chở quá số người quy định, chạy quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm, chống người thi hành công vụ, lạng lách, đánh võng, đua xe trái phép, sử dụng rượu, bia, các chất kích thích khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông và các hành vi vi phạm pháp luật khác...

Tổ công tác liên ngành 282 tuần tra đêm trên địa bàn TP Thanh Hóa.

Do chủ động làm tốt công tác nắm tình hình và triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh trấn áp tội phạm nên trong 2 ngày đầu nghỉ lễ Quốc Khánh 2/9 (1-2/9/2022) tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh đã được kiềm chế, ANTT được giữ vững ổn định, không xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, đua xe trái phép và ùn tắc giao thông kéo dài. Lực lượng tuần tra vũ trang, tuần tra nghiệp vụ phòng ngừa tội phạm toàn tỉnh phát hiện, xử lý 27 trường hợp vi phạm liên quan đến đến trật tự an toàn giao thông, ma tuý, trộm cắp….; nhắc nhở 27 trường hợp ngăn chặn, xử lý kịp thời nhiều hành vi tội phạm và giúp người dân nâng cao ý thức bảo quản tài sản. Lực lượng CSGT toàn tỉnh đã phát hiện lập biên bản xử lý 495 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ, xử, phạt tiền hơn 1,3 tỷ đồng, trong đó tước GPLX 67 trường hợp và tạm giữ 112 phương tiện./.

 

Việt Nam-Lào vững bước đồng hành trên con đường phát triển

Nhìn lại lịch sử mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào qua hơn 9 thập niên, chúng ta tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Là hai nước láng giềng gần gũi, có đường biên giới chung dài hơn 2.300km, cùng uống chung dòng nước sông Mekong, cùng tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, quan hệ gắn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào đã được hình thành và hun đúc trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung son sắt, trong sáng, hiếm có trong quan hệ quốc tế.

Việt Nam-Lào vững bước đồng hành trên con đường phát triển -0
Tình nghĩa Việt Nam-Lào sẽ mãi mãi bền vững.

60 năm trước, ngày 5/9/1962, Việt Nam và Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước.

Đây không chỉ là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước ngoặt mới trong thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của lực lượng cách mạng hai Đảng, hai nước, mà còn khẳng định sự gắn bó vận mệnh của hai dân tộc trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong hơn một thập niên sau đó, quân đội và nhân dân hai nước tiếp tục dành cho nhau sự hỗ trợ và sẻ chia to lớn cả về tinh thần cũng như nhân lực và vật lực, trên tinh thần “Hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”.

Để hỗ trợ cách mạng Lào, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã cử hàng vạn cán bộ, chiến sĩ sang phối hợp, giúp đỡ và sát cánh chiến đấu cùng quân đội và nhân dân Lào.

Để giúp cho công cuộc thống nhất đất nước của Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào cũng đã hết lòng hết sức hỗ trợ Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”.

Sự giúp đỡ lẫn nhau vô cùng to lớn và cao đẹp đó đã trở thành sức mạnh to lớn, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của mỗi nước đi đến thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

Sau khi hòa bình lập lại, quan hệ giữa Việt Nam và Lào bước sang trang sử mới, từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập, chủ quyền là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Xuất phát từ nhu cầu hợp tác sâu rộng và cấp thiết giữa hai nước trong tình hình mới, ngày 18/7/1977, Việt Nam và Lào đã ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để hai nước không ngừng mở rộng quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện.

Đây cũng là tiền đề để hai nước ký kết hàng loạt văn kiện và thỏa thuận hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục-đào tạo…

Trong thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hai Đảng, hai nước Việt Nam-Lào anh em tiếp tục kề vai, sát cánh trong công cuộc Đổi mới, cùng đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, an toàn và trật tự xã hội, mang lại cuộc sống ngày càng ấm no và bình yên cho nhân dân mỗi nước.

Nhìn lại lịch sử mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào qua hơn 9 thập niên kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đặc biệt là sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1962 và ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác năm 1977 đến nay, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Tự hào khi chứng kiến bất chấp tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, thuận lợi và thách thức đan xen, tác động mạnh đến hai nước, nhưng quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong trực tiếp đặt nền móng, chẳng những không bị ảnh hưởng, mà còn ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đem lại hiệu quả và nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước trên mọi lĩnh vực, trở thành mối quan hệ đặc biệt, là di sản quý báu và là nhân tố quyết định đối với sự thành công trong công cuộc cách mạng ở mỗi nước.

Đặc biệt trong những năm gần đây, ngay cả khi đại dịch COVID- 19 đặt ra những thách thức và khó khăn chưa từng có, nhờ sự phối hợp linh hoạt và hình thức đa dạng, nhiều thỏa thuận quan trọng mang tính chiến lược, định hướng cho quan hệ hai nước duy trì được tiến độ và bảo đảm hiệu quả, giúp cho quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước tiếp tục phát triển vững chắc, ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Quan hệ chính trị không ngừng được củng cố và nâng cao, từ "quan hệ hữu nghị truyền thống" thành "quan hệ hữu nghị vĩ đại" từ tháng 2/2019, ngày càng trở nên tin cậy, gắn bó, tiếp tục giúp định hướng cho các lĩnh vực hợp tác khác.

Hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng-an ninh tiếp tục là trụ cột vững chắc trong quan hệ Việt Nam-Lào, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định, an ninh chính trị mỗi nước.

Hợp tác kinh tế trở thành nền tảng lâu dài trong quan hệ hai nước, ngày càng khởi sắc, mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn. Việt Nam tiếp tục là một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Lào...

Không chỉ hợp tác toàn diện và ngày càng đi vào chiều sâu trong khuôn khổ song phương, tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt giữa Việt Nam và Lào còn được khẳng định trên bình diện đa phương.

Hai nước chia sẻ nhiều điểm tương đồng, ủng hộ lẫn nhau và phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, ASEM, Tiểu vùng Mekong mở rộng...

Trong diễn văn đọc tại Thủ đô Hà Nội ngày 18/7/2022 nhân dịp kỷ niệm 45 năm hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn ủng hộ mạnh mẽ, toàn diện công cuộc đổi mới của Lào; đồng thời hết sức coi trọng và dành ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ đặc biệt vừa là đồng chí, vừa là anh em giữa hai Đảng, hai nước chúng ta. Chúng tôi luôn luôn mong muốn hợp tác, hỗ trợ đất nước Lào với tinh thần giúp bạn là giúp mình, xem đây là nhiệm vụ chiến lược; mong muốn cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào không ngừng bồi đắp tin cậy chính trị, đẩy mạnh hợp tác an ninh quốc phòng, tăng cường kết nối hai nền kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng hợp tác giáo dục đào tạo, cùng nhau xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng”.

Trong diễn văn đọc tại thủ đô Viêng Chăn cùng ngày nhân sự kiện này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cũng nhấn mạnh: “Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào luôn kiên quyết và sẽ cùng với các đồng chí Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống làm cho mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam mãi mãi trường tồn, tăng cường và nâng cấp sự hợp tác trong các lĩnh vực ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước”.

Với những cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo cấp cao nhất cùng quyết tâm của người dân hai nước gìn giữ và vun đắp cho quan hệ Việt-Lào, trên cơ sở của những kết quả đáng tự hào mà hai nước đã đạt được trong suốt những năm tháng qua, tin tưởng rằng, quan hệ hữu nghị vĩ đại Việt Nam-Lào trong tương lai sẽ không ngừng được củng cố, phát triển, năng động, hiệu quả và thiết thực hơn, ngày càng đáp ứng lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước và mãi mãi trường tồn với thời gian.

@CLT