Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

Việt Tân, Chân Trời Mới Media “tối mắt”

 

Việt Tân “tối mắt” nên mới hớt hải vồ lấy cái tin liên quan cổ phiếu của tỷ phú Phạm Nhật Vượng VOA vừa phóng lên. VOA thì nhiều người biết, được một số kẻ “phong” là “cơ quan truyền thông đa phương tiện lớn nhất Hoa Kỳ”, nhưng nếu lấy thông tin về Việt Nam làm tiêu chí, thì cái sự phong ấy thành “phong sát”, bởi đốt đuốc cũng khó tìm được một thông tin khách quan về Việt Nam trong các bản tin của họ.

Tuy vậy, so với  Việt Tân, VOA vẫn “khá” hơn nhiều trong trường hợp này. Cụ thể, bản tin của VOA vừa ra lò ngày 29/8, nguyên văn là “Ông Phạm Nhật Vượng không còn nằm trong danh sách 500 tỷ phú của hãng tin Bloomberg vào tối 28/8, cho dù giá cổ phiếu của hãng VinFast thuộc sở hữu của ông Vượng tăng vọt gấp 8 lần sau gần 10 ngày lên sàn ở Mỹ, đưa giá trị vốn hóa của hãng đạt hơn 160 tỷ đô la, theo tính toán về lý thuyết”.

Ngôn từ đó cho thấy, VOA ít nhất còn thể hiện sự thận trọng trước một hiện tượng khác thường liên quan sự kiện lên sàn thị trường chứng khóa Mỹ của hãng VinFast.

 Sự khác thường đó cần phân tích của giới chuyên môn. Thế cũng chưa đủ. Sự khác thường này còn làm choáng váng dư luận, choáng cả lãnh đạo VinFast kia mà. Bằng chứng là ngay sau phiên VinFast niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán Nasdaq của Mỹ, bà Lê Thị Thu Thủy, Tổng giám đốc VinFast đã nói rằng:  việc thị trường chứng khoán Mỹ định giá VinFast ở mức 85 tỷ USD là “hơi ngoài tưởng tượng” của bà, cho thấy Công ty chứng minh được khả năng trở thành công ty toàn cầu. Tuy nhiên, cũng chính cái “ngoài tưởng tượng” đó, vị CEO nữ này, cùng với tự thưởng cho mình “một phút sung sướng”, đã trở về ngay với thực tế, thận trọng mà rằng: “Mọi thứ (sẽ) không phải màu hồng như ngày hôm nay”.

 Nghĩa là, dẫu chào sàn thành công, nhưng bộ sậu VinFast nhận thức rõ vô vàn thách thức trước mắt. Thế là tốt chứ sao? Không thế, nghĩ là sắp tới thiên đàng rồi, có mà…

Trở lại với bản tin “xào” lại từ VOA của Việt Tân, thông tin bị bóp méo thành “Phạm Nhật Vượng không có tên trong danh sách 500 tỷ phú của Bloomberg dù vốn hóa của VinFast đạt 160 tỷ USD. Giới chuyên gia nói cổ phiếu VinFast tăng gấp 7, 8 lần là chuyện điên rồ, “nghi ngờ” về làm giá, cảnh báo “sử dụng đòn bẩy quá mức sẽ “gậy ông đập lưng ông”.

 Đó là chưa kể, trong thực tế, cái gọi là “giới chuyên gia” như  Việt Tân nêu, trong bản tin gốc của VOA chỉ nhõn một ông Nguyễn Sơn Hải (tổng giám đốc Công ty chứng khoán Hải Phòng). Một ông này,  liệu có đủ tư cách đại diện cho “giới chuyên gia”, hay chỉ là một ý kiến cá nhân?

Tin ông Phạm Nhật Vượng không có tên trong danh sách 500 tỷ phú của Bloomberg là thật, báo chí Việt Nam cũng đưa tràn lan, cũng như đưa tràn lan việc trồi/sụt của cổ phiếu VinFast sau phiên chào sàn, chứ đâu ém nhẹm, giấu biến như  Việt Tân vu khống (không tin, cứ mở mạng mà tra cứu).

 Tuy nhiên, vấn đề là cái sự thăng thiên giá trị tài sản của ông Vương không chỉ khủng khiếp, qua mặt nhiều tập đoàn quốc tế, đang đà tiệm tiến đến cả tài sản những Elon Musk, Mark Zuckerberg, mà còn chưa có tiền lệ.

Chưa có tiền lệ nên ngay cả Bloomberg, Forbes cũng lúng túng, chưa biết tính toán tài sản của ông Vượng như thế nào trước những diễn biến dồn dập, bất ngờ tới mức gây choáng váng giới tài chính và các nhà đầu tư. Thế nên, tốt nhất, trước hiện tượng được xem là “một tia chớp trên bầu trời tài chính Mỹ” này; tia chớp đó có thành một huyền thoại mới giới công nghệ hay không, hay sớm tắt ngấm… cần thêm thời gian mới có thể trả lời – là điều ai cũng hiểu. Và trong khi chờ thêm thời gian, Bloomberg, Forbes mới tạm đưa ông Vượng ra ngoài danh sách các tỷ phú thế giới hàng đầu. Cách làm đó là thận trọng và trách nhiệm.

 Vậy mà Việt Tân, Chân Trời Mới Media lại hô hoán toáng lên và hù dọa thiên hạ bằng những thông tin võ đoán rằng ông Phạm Nhật Vượng và bộ sậu đang làm trò gian lận, thậm chí “thổi giá”, sớm muộn cũng bị trả giá…

Người ngoại đạo cũng biết, kinh doanh tài chính, trong đó có cổ phiếu, là lĩnh vực nhạy cảm bậc nhất. Nhạy cảm do dựa trên niềm tin của khách hàng và dư luận. Với việc liên tục tục bài xích và tung ra các thông tin bất lợi cho VinFast – nghĩa là giáng đòn vào niềm tin nhà đầu tư – Việt Tân, Chân Trời Mới Media định làm gì; thiện ý hay thâm độc; có định cổ vũ giới doanh nhân Việt Nam hay không…, thiên hạ biết cả đấy./.

Những luận điệu xuyên tạc chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính

 

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị, Quốc hội đã có Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 - 2030, có hiệu lực thi hành từ ngày 19/7/2023. Lợi dụng vấn đề này và thời điểm cấp ủy, chính quyền địa phương có những bước nghiên cứu, rà soát chuẩn bị thực hiện, nhiều đối tượng, phần tử cơ hội đã tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chống phá.

Mượn gió bẻ măng

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm tinh gọn bộ máy hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp là yêu cầu khách quan. Đây là chủ trương hướng đến mục tiêu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian, thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, nhiều đối tượng phản động, phần tử cơ hội đã tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc, tạo ra nhận thức lệch lạc, hoang mang trong dư luận.

Trên mạng xã hội có hàng chục nghìn người theo dõi, ông M.V.T dùng những từ ngữ thiếu văn hóa và cho rằng, sáp nhập các đơn vị hành chính nhỏ để giảm biên chế “gây bao rắc rối, chỉ việc định biên chế cán bộ theo quy mô dân số là xong”! Ông này viện dẫn kinh phí dự toán cho việc sáp nhập và cho rằng, “chưa sáp nhập đã thấy tiền, thảo nào quyết liệt thế”; đồng thời đặt câu hỏi, sao không lấy tiền này để xây trường học, giúp gia đình thương binh, liệt sĩ còn khó khăn mà “cứ nhắm mắt làm lấy được”! Từ đó quy kết theo hướng đây là việc để dễ bề tham nhũng, tiêu cực: "Luân chuyển cán bộ" và "nhập - tách - nhập" là hai trò để tổ chức, nội vụ ăn đẫy nhất”!.


Ảnh minh họa.

Ngay sau khi các thông tin được ông này tung lên mạng đã thu hút hàng nghìn bình luận, chia sẻ theo hướng tiêu cực, xuyên tạc, phá hoại chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về sắp xếp đơn vị hành chính. Bên cạnh đó, nhiều người cũng phản bác, vạch trần quan điểm sai trái của ông T, đặt câu hỏi: “Ông không tìm hiểu cho kỹ, Quốc hội, Bộ Nội vụ đã hướng dẫn, quy định sau khi sáp nhập, phân bổ công chức, viên chức theo quy mô dân số và nhiều yếu tố khác. Nếu nói như ông thì các chức danh, vị trí cấp trưởng, cấp phó làm sao tinh giản?

Thực tế, không ít trường hợp núp bóng “xã hội dân sự”, dưới chiêu bài “phản biện” để xuyên tạc, chống phá Hiến pháp 2013 và nhiều vấn đề khác. Nhiều bài viết cũng “bóc mẽ” hành vi của một số cá nhân chống đối khi cố tình cắt gọt bản chất vấn đề để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; gây hoang mang dư luận, làm giảm niềm tin của nhân dân; kêu gọi, kích động, lôi kéo người dân tham gia biểu tình, hoạt động với mục đích chống đối chính quyền.

Mượn gió bẻ măng, lấy cớ để chống phá, trên không gian mạng, các tổ chức phản động như Việt Tân, VOA, Báo Tiếng Dân… suy diễn, xuyên tạc: “Hôm nay nghe sáp nhập mà kinh. Gần 100 triệu dân Việt Nam, cả đời đi làm lại giấy tờ vì ai đó thích. Xin hỏi, các vị định hành dân đến bao giờ”! Có trường hợp đưa ra những phê phán tùy tiện khi cho rằng, quy định tại Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính để tính số lượng công chức cấp xã tăng thêm như sau: Phường thuộc quận cứ tăng thêm đủ 1/3 mức quy định về quy mô dân số thì được tăng thêm 1 công chức; các đơn vị hành chính cấp xã còn lại cứ tăng thêm đủ 1/2 mức quy định về quy mô dân số thì được tăng thêm 1 công chức. Từ đó quy kết, tất cả những thay đổi, tách nhập kiểu này “đều dẫn đến sai lầm, kìm hãm và bế tắc”! Từ đó họ miệt thị rằng, việc tách nhập địa giới hành chính là sự tùy tiện, thể hiện sự “yếu kém, bế tắc” trong quản lý hành chính.

Chủ trương lớn, lợi ích lâu dài

Trái với quan điểm chống phá nêu trên, thực tế, việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, đơn vị hành chính trong hệ thống chính trị, trong đó có việc sắp xếp một số đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn, đặt trong tổng thể nhiều chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện, phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN, phục vụ giai đoạn phát triển mới. Sắp xếp tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là chủ trương lớn. Quá trình thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về sắp xếp đơn vị hành chính. Nghị quyết của Quốc hội chỉ rõ: Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975 đến nay, đơn vị hành chính các cấp ở nước ta đã được điều chỉnh, sắp xếp lại phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được một số kết quả tích cực góp phần phát huy nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước cũng thẳng thắn nhìn nhận, việc chia, tách đơn vị hành chính các cấp thời gian qua đã nảy sinh một số bất cập và hạn chế. Nhiều đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã quy mô quá nhỏ, không gian phát triển bị chia cắt, gây ra nhiều khó khăn, cản trở trong công tác lập kế hoạch, quy hoạch dài hạn, định hướng phát triển kinh tế - xã hội tầm vĩ mô cũng như quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng; nguồn lực của địa phương và Trung ương cho phát triển kinh tế - xã hội bị phân tán, nhất là trong điều kiện Trung ương đang đẩy mạnh phân cấp, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính quyền địa phương. Việc tăng số lượng đơn vị hành chính các cấp đã dẫn đến tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở địa phương tăng; ngân sách nhà nước chi cho hoạt động của bộ máy, xây dựng trụ sở, mua sắm mới trang thiết bị làm việc tăng; đại đa số các đơn vị cấp huyện, cấp xã thu ngân sách tại địa phương không đủ cân đối chi thường xuyên, chủ yếu Trung ương phải hỗ trợ.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm tổ chức hợp lý đơn vị hành chính các cấp phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển của đất nước; bảo đảm hoàn thiện thể chế về đơn vị hành chính, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; góp phần phát huy mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2030, các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã được sắp xếp cơ bản phù hợp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng yêu cầu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ; thực hiện theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn có trọng tâm, phù hợp, chặt chẽ, thận trọng, hiệu quả, chắc chắn, phù hợp với quy hoạch tổng thể, yêu cầu phát triển; bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thông qua sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để từng bước đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế, cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Phát huy hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội trong từng địa phương và trên phạm vi toàn quốc; nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Việc sắp xếp phải đảm bảo không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của nhân dân.

Quan điểm chỉ đạo chung là mỗi một đơn vị hành chính cụ thể được sáp nhập phải chú trọng, cân nhắc kỹ các yếu tố đặc thù về lịch sử, truyền thống, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý - tự nhiên, cộng đồng dân cư… như một số quận nội thành Hà Nội. Việc sắp xếp đơn vị hành chính là việc khó, nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến nhiều người, nhiều ngành, tác động đến người dân, doanh nghiệp và các chủ thể khác. Trước vấn đề mang tính khó khăn, phức tạp, việc người dân có ý kiến góp ý, xây dựng, đề xuất những giải pháp là hoàn toàn cần thiết, được Đảng, Nhà nước khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, lợi dụng vào đó để xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái, thậm chí xuyên tạc với động cơ, mục đích xấu, tạo nhận thức lệch lạc hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước cần phải được vạch trần, đấu tranh phản bác./.

Nước mắt Đại ngoại bên bo bo

 

Nước mắt Đại ngoại bên bo bo

Trong những năm sau chiến tranh chống Mỹ, tình nước, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn dành thời gian đi thăm các cơ sở sản xuất, trong đó có Hợp tác xã cơ khí đóng tàu Quyết Thắng, xã Nam Dương, huyện Nam Ninh, nay là huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định.

Hôm ấy là ngày 2-4-1983, nhận được điện khẩn của Tỉnh ủy Hà Nam Ninh, ông Vũ Đình Đê, chủ nhiệm hợp tác xã cùng với gần 700 xã viên, dưới sự chỉ đạo của công an huyện khẩn trương chuẩn bị cờ hoa để đón Đại tướng. Không ai bảo ai, tất cả như một guồng máy.

Đúng 9 giờ sáng ngày 2-4-1983, chiếc xe “nhà binh” chở Đại tướng cùng đoàn xe tùy tùng và xe của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh qua cầu Vân Tràng, theo đê sông Đào đến cổng hợp tác xã... Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước xuống xe giơ tay vẫy chào các xã viên đứng hai bên đường bảo: “Nắng nôi thế này, các đồng chí đứng thế này làm gì cho mệt”. Nói rồi ông bắt tay từng người và đi thẳng xuống phân xưởng đóng sà lan và tàu lưới thép. Ông Đặng Công Thuần năm ấy mới ngoài 40 tuổi được Đại tướng bắt tay đầu tiên, và được hỏi thăm sức khỏe, công việc của phân xưởng.

Ông Thuần kể về những năm chiến tranh chống Mỹ, phân xưởng này ban ngày đi sơ tán vào làng nhưng vẫn mang theo nguyên vật liệu để sản xuất. Tối ưu trở về lán trại, dưới ánh sáng tỏa sáng gắn kết thành những thuyền gỗ nhỏ trọng lượng tải 5 tấn đưa vào miền Nam để phát sóng theo dòng kênh nhỏ khí vũ khí, thực lương, thực phẩm đến cho khu du kích hoặc căn cách mạng nào đó để chiến đấu đáp lại những cuộc quét quét của Mỹ-giả. Sau ngày hòa bình chuyển sang đóng sà lan thép và thuyền xi măng.

Nước mắt Đại ngoại bên bo bo

Đại tướng Võ nguyên Giáp xuống tận tổ sản xuất thăm hỏi từng người. Ông cầm từng thanh thép lên bảo: “Bắt thép này chúng ta nhập từ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, nó quý hơn vàng. Tại thời điểm đất nước ta đang phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các đồng chí cần tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu để xây dựng cơ sở như Bác Hồ Ngộ phải không?”. Mọi người đồng thanh: “Thưa Đại tướng phải ạ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến bên một con thuyền xi măng đang chuẩn bị hạ phóng xuống dòng sông Đào để thử máy. Ông gõ vào thành thuyền, lấy thanh sắt gõ vào thân con thuyền bảo: “Thuyền này các đồng chí đóng được bao nhiêu ngày rồi?”.- “Thưa Đại tướng, được 27 ngày rồi ạ”, một đồng chí nữ công nhân trả lời. Đại tướng nói ngay: “27 ngày mà xi măng khô, gõ boong boong thế này là đảm bảo kỹ thuật đấy”. Các đồng chí lãnh đạo võ phục và chính quyền tỉnh đi theo ai cũng trầm tĩnh trang hiểu biết thực tế của Đại tướng.

Sau khi đi thăm cả hai phân xưởng, ông về nhà ăn. Lúc này các đồng chí cấp dưỡng đang chuẩn bị bữa ăn chiều cho công nhân, ai ai đều phấn khởi động. Đại tướng mãng ra hiệu cứ làm không cần phải dừng tay. Đại tướng đến bên một mãng và một hầm hầm bo bo (đây là loại mỳ còn nguyên hạt làm các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu viện hỗ trợ. Lúc ấy thiếu tiền thực lương nên những người ăn bình bầu dùng nó để ăn thay bình. Các hộ gia đình thường rang để ăn thay cơm như ăn ngô rang), ông lấy khăn tay mềm nước mắt. Mọi người cảm động nhìn nhau không có tiếng xì xầm. Ông nói với mọi người: “Các đồng chí ạ! Đất nước ta còn khó quá. Đảng và phủ Chính biết nhưng chưa giải quyết được. Các đồng chí cố gắng nỗ lực. Trong chiến tranh chống Mỹ các đồng chí đã đóng tàu thuyền phục vụ kháng chiến, trong hòa bình các đồng chí quyết tâm giữ lấy kho báu quý giá này để xứng đáng với cái tên “Quyết Thắng” mà đơn vị ta mang tên”. Ông nói vừa dứt thì tiếng vỗ tay hoan chiến vang lên trong nhà ăn. Như mọi khó khăn còn thiếu sót của thời kỳ hậu chiến đã được giảm bớt.

Bà Mai Thị Thân, gần 70 tuổi đời, 35 tuổi Đảng, đang cư trú ở thôn Vân Tràng nhớ lại ngày ấy cho biết: “Nhìn thấy Đại tướng bước vào nhà ăn, chúng tôi vừa sống vừa lo. Lễ kỷ niệm lần đầu tiên được gặp ông. Lo vì thức ăn chả có gì đáng kể. Động cơ bo bo. Thức ăn thì chỉ có rau muống dồn xì dầu cọ miến (loại hơi dầu chế biến bằng phương pháp thủ công). Không ngờ Đại tướng rất thông cảm và động viên đáp ứng kịp thời”.

Sau khi ghé thăm cơ sở sản xuất, nơi ăn, nơi ở của cán bộ công nhân viên và xã hội, Đại tướng khen: “Tuy khó khăn nhưng đồng chí ăn ở Phá Sản gọn gàng. Đặc biệt là không có hiện tượng chênh lệch giữa bộ lọc và xã hội. Thế là rất tốt”. Đại tướng trở về hội trường, ông nói nhiều về tình hình biên giới, về việc làm Mỹ cấm vận Việt Nam. Không khí buổi họp tại hội trường rất sôi động.

Những người có mặt trong buổi đón tiếp hôm nay, giờ đây đã trở thành thành ông bà. Có người đã qua đời như chủ nhiệm Vũ Đình Đê… Những kỷ niệm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần ông về thăm Hợp tác xã Quyết Thắng thì mãi mãi không phai mờ. Họ truyền lại cho con cháu những ấn tượng khó quên này để con cháu họ nối tiếp truyền thống cha ông sống xứng đáng với mảnh đất còn ghi dấu chân một vị tướng tài của dân tộc và của cả thế giới.


NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

   NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

1.                 Nhận diện quan điểm sai trái

Ngày 28/8/2023, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Tấn công mạng tại Việt Nam và quan tâm của Nhà nước”, nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng; vu cáo Việt Nam “hạn chế” quyên tự do tiếp cận thông tin của người dân; phủ nhận nỗ lực của Chính phủ về công tác quản lý về an toàn, an ninh mạng.



2. Khảng định

Trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã tán phát bài viết có nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng

3. Nâng cao nhận thức để đấu tranh chống lại quan điểm sai trái

Luật An toàn thông tin được ban hành năm 2015 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về an toàn thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Theo đó: “An toàn thông tin mạng mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin” .

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (Gọi tắt là Bộ luật Hình sự) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (gồm 26 Chương và 526 Điều), trong đó các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được quy định tại Mục 2. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XII gồm các Điều 285 đến 294.

Luật An toàn thông tin 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (gồm 8 Chương và 54 Điều).

Luật An ninh mạng 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 (gồm 7 Chương, 43 Điều) [6].

4. GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thứ nhất: Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng.

Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Thứ hai: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.

Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về ATTT; góp ý xây dựng chương trình giáo dục ATTT mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến ATTT mạng.

Thứ ba: Bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái phát sinh trên không gian mạng.

Hoạt động tấn công không gian mạng rất đa dạng và tinh vi như: làm mất kết nối Internet, đánh sập các website của chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, file, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua usb, đĩa CD, địa chỉ IP, server,…

Thứ tư: Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ và sử dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả trong trường hợp bị tấn công trên không gian mạng.

Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

 

 

 

 

 


1.                 Nhận diện quan điểm sai trái

Ngày 28/8/2023, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Tấn công mạng tại Việt Nam và quan tâm của Nhà nước”, nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng; vu cáo Việt Nam “hạn chế” quyên tự do tiếp cận thông tin của người dân; phủ nhận nỗ lực của Chính phủ về công tác quản lý về an toàn, an ninh mạng.

2. Khảng định

Trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã tán phát bài viết có nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng

3. Nâng cao nhận thức để đấu tranh chống lại quan điểm sai trái

Luật An toàn thông tin được ban hành năm 2015 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về an toàn thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Theo đó: “An toàn thông tin mạng mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin” .

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (Gọi tắt là Bộ luật Hình sự) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (gồm 26 Chương và 526 Điều), trong đó các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được quy định tại Mục 2. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XII gồm các Điều 285 đến 294.

Luật An toàn thông tin 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (gồm 8 Chương và 54 Điều).

Luật An ninh mạng 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 (gồm 7 Chương, 43 Điều) [6].

4. GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thứ nhất: Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng.

Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Thứ hai: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.

Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về ATTT; góp ý xây dựng chương trình giáo dục ATTT mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến ATTT mạng.

Thứ ba: Bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái phát sinh trên không gian mạng.

Hoạt động tấn công không gian mạng rất đa dạng và tinh vi như: làm mất kết nối Internet, đánh sập các website của chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, file, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua usb, đĩa CD, địa chỉ IP, server,…

Thứ tư: Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ và sử dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả trong trường hợp bị tấn công trên không gian mạng.

Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

 

 

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO


1. Nhận diện luận điệu sai trái

Ngày 26/8/2023, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài “Hội thánh của Đức Chúa Trời được cấp giấy chứng nhận sinh hoạt tôn giáo”; trên trang blog Đối Thoại tán phát bài “Tường niệm nạn nhân của hành vi bạo hành vì niềm tin và tôn giáo”, nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo; vu cáo chính quyền “ngăn cấm” hoạt động của các tôn giáo; đánh tráo bản chất của 07 điểm nhóm mang tên Đức Chúa Trời được cấp phép hoạt động ờ TP Hồ Chí Minh với các hoạt động tà đạo; đồng thời kích động đấu tranh đòi tự do tôn giáo.

        2. Khảng định

Trang blog Việt Nam Thời Báo đã tán phát nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo; vu cáo chính quyền “ngăn cấm” hoạt động của các tôn giáo

3.     Cơ sở để đấu tranh

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh với “thiên tai, địch họa”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã xây dựng nguyên tắc của chính sách dân tộc ở Việt Nam là: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Những nguyên tắc này được quán triệt và thực hiện nhất quán, có hiệu quả trong mọi thời kỳ cách mạng.

        Từ khi đất nước thống nhất, quá độ đi lên CNXH, nhất là quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta tiếp tục thực hiện nhất quán quan điểm, nguyên tắc về chính sách dân tộc; đồng thời bổ sung, phát triển những nội dung mới phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Các nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của Đảng và Nhà nước qua các kỳ Đại hội Đảng, đều quan tâm sâu sắc đến việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Hội nghị Trung ương 7 (Khóa IX), Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc, trong đó nêu rõ những quan điểm cơ bản, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của công tác dân tộc trong thời kỳ mới. Đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ…”1. Quan điểm của Đảng là sự tổng kết thực tiễn nhiều năm thực hiện đường lối, chính sách dân tộc và công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; vừa có giá trị chỉ đạo lâu dài, vừa có ý nghĩa thực tiễn, gắn chặt với thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trong những nội dung quan trọng đó, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh tính chiến lược, nguyên tắc và yêu cầu nhiệm vụ phát triển toàn diện địa bàn vùng dân tộc và miền núi; sự ưu tiên đầu tư phát triển KT - XH và công tác dân tộc là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị.

4.     Phương hướng thực hiện công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước

Đảng và Nhà nước đã đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án quan trọng, có tác dụng to lớn đối với đồng bào dân tộc, như: Quyết định135/1998 về Chương trình phát triển KT - XH các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Quyết định 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số… các Nghị quyết về phát triển KT - XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ... Nhờ vậy, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã ngày càng ổn định và có bước phát triển vững chắc. Đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; vấn đề chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo đã có những chuyển biến tích cực; kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư phát triển hơn; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh (bình quân khoảng 3-5%/năm), tốc độ phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, các nhóm dân tộc được kiềm chế; nhiều tỉnh đã cơ bản giải quyết được những bức xúc về nước sinh hoạt, nhà ở, đất ở, đất sản xuất, việc làm…, đồng bào các dân tộc ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, tích cực lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Với tư duy nhạy bén, cách mạng, khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Từ lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, cần khẳng định đó là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, phù hợp với quy luật, xu thế thời đại, tình hình đất nước, nguyện vọng của nhân dân. Do đó, dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) là giải pháp quan trọng hàng đầu, cần quyết liệt thực hiện.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời, xác định rõ đây là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự mất còn của Đảng, chế độ, đất nước và dân tộc.

Thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, nhân dân có vai trò và sức mạnh vô cùng lớn. Dân là gốc, mọi công việc hệ trọng của quốc gia, dân tộc dù khó khăn, phức tạp đến mấy, nếu có sự đồng thuận, tham gia tích cực của nhân dân thì sẽ thành công và ngược lại, nếu thiếu điều đó sẽ thất bại. Bởi thế, các bậc tiền nhân đã đúc kết, “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Thấu suốt tư tưởng đó, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã luôn triệt để vận dụng, thực hiện vấn đề có tính quy luật ấy trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chúng ta tự hào có Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có Nhân dân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhân dân là lực lượng hùng hậu của cách mạng, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc, nên mọi công việc của Đảng, Nhà nước, của quốc gia - dân tộc đều cần phải dựa vào nhân dân. Nếu không làm vậy, tức là chúng ta đã tự từ bỏ nguồn sức mạnh to lớn của mình. Hơn nữa, trải qua quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đóng góp to lớn đối với đất nước và xác lập mối quan hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân ghi nhận, tin yêu và vinh danh bằng tên gọi thân thuộc: Đảng ta - Đảng của Nhân dân. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân, và điều này đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị các cấp cần phải dựa vào nhân dân, do nhân nhân, vì nhân dân, và chỉ có như vậy mới đạt được hiệu quả thiết thực. Những năm qua, với quan điểm “dân là gốc” là chủ thể của công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định: “thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng”1. Trên cơ sở đó đã có những phương thức sáng tạo để “phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”2 đạt kết quả tích cực. Việc làm trên không chỉ thể hiện ở chủ trương mà được thể chế hóa bằng văn bản với các quy định cụ thể, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng Đảng một cách thuận lợi, rộng rãi, hiệu quả, nhất là trong công tác kiểm tra, giám sát, thiết thực góp phần phòng, chống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống tổ chức của Đảng.

Điều quan trọng là công tác xây dựng Đảng luôn được gắn chặt với bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, kết hợp với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong các tổ chức Đảng, Nhà nước,… thì việc dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng càng trở nên cấp thiết, quan trọng. Cần phải xác định rõ đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong hệ thống giải pháp được tiến hành đồng bộ để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn luôn sống động, phong phú, nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, khó khăn, phức tạp đến đâu cũng phải luôn tuân thủ và thấm nhuần tư tưởng: “dân là gốc”, dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, chế độ, thành tựu của công cuộc đổi mới. Bởi, chỉ có như vậy mới tạo được sức mạnh tổng hợp, vượt qua mọi thách thức, trở ngại để thành công. Nếu xa rời quan điểm có tính nguyên tắc “dựa vào nhân dân” tất sẽ thất bại. Cổ nhân có câu “chúng chí thành thành”, có nghĩa là nhân dân là bức thành trì vững chắc nhất, không kẻ thù nào có thể phá vỡ. Tương tự như vậy, ngày nay Đảng ta khẳng định: “xây dựng thế trận lòng dân”3. Đó là thế trận vững chắc nhất trong các loại hình thế trận. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch càng phải dựa vào nhân dân, “bức thành trì” đó, “thế trận đó”. Mới đây, chúng ta đập tan vụ bạo động vũ trang ở Đắk Lắk của lực lượng khủng bố do tổ chức phản động chỉ đạo từ nước ngoài là minh chứng điển hình về việc dựa vào nhân dân. Nhờ có nhân dân trên địa bàn cung cấp thông tin, phối hợp hoạt động nên vụ việc được xử lý nhanh, gọn, hiệu quả, sớm đưa cuộc sống yên bình của nhân dân trở lại bình thường. Nhưng đồng thời cũng để lại bài học quý về “lỗ hổng” “xây dựng thế trận lòng dân”, thể hiện trong việc nắm, quản lý, kiểm soát tình hình địa bàn, đối tượng; đặc biệt, chưa thật gần dân, dựa vào nhân dân. Bởi nhân dân chính là “tai, mắt” của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Các tổ chức, lực lượng phản động dù có xảo quyệt đến mấy cũng không thể qua được mạng lưới “thiên la địa võng” từ nhân dân.

NGÀY 2 THÁNG 9 LÀ NGÀY QUỐC KHÁNH CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

NGÀY 2 THÁNG 9 LÀ NGÀY QUỐC KHÁNH CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


Ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh của nước Việt Nam, sở dĩ gọi là Ngày Quốc khánh vì chính ngày này năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự thật không thể phủ nhận. Song, các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc sự thật này. Trên trang “Baoquocdan”, Quốc Vy có bài viết: “Ngày 2 tháng 9: Quốc khánh hay Quốc hận?”, Y cho rằng, ngày Quốc khánh là ngày Quốc hận. Vì, nó là ngày mở đầu của thời kỳ lầm lạc, đau buồn, ly tán cho dân tộc Việt Nam; người dân không hề được hưởng độc lập, tự do như bánh vẽ của cộng sản. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc vấn đề và chỉ cho Quốc Vy biết rằng:

1. Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia, một dân tộc. Độc lập còn có thể hiểu là sự không phụ thuộc của cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc này vào cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc khác. Độc lập thường có được khi có đấu tranh giải phóng khỏi sự thống trị. Nói cách khác, độc lập là tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế quốc. Độc lập chỉ có thể giành được nhờ việc chống lại đế quốc, thực dân hóa, chống lại sự chia cắt. Độc lập sẽ giúp cho nhân dân sống trong ấm no hạnh phúc, không sợ hãi về những gì chiến tranh, xung đột, bạo loạn gây ra. Tự do là không bị kiểm soát bởi một thế lực nào đối với số phận của cá nhân và dân tộc. Tự do bao gồm các quyền tự do của cá nhân và quyền tự do của một quốc gia. Quyền tự do cá nhân là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà pháp luật cho phép. Quyền tự do của một quốc gia là quyền tự quyết của dân tộc. Với quyền này, các quốc gia phải thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và tính mạng, tài sản của người dân. Có thể khẳng định rằng, dưới sự cai trị của thực dân, phong kiến, người dân Việt Nam bị mất nước, trở thành thân phận nô lệ và chưa bao giờ được hưởng tự do, độc lập.

2. Ngày 2 tháng 9 hằng năm, ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày này đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi nhất trong hành trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới, là ngày chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, đồng thời mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2 tháng 9 trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Chương 1, Điều 13, Mục 4 khẳng định: “Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945”. Từ đây, với tư cách người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên cường, bất khuất đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc và chế độ phong kiến. Ba mươi năm, sau ngày Quốc khánh, ngày 30/4/1975, Đảng ta, quân và dân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên đáng kể. Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. 78 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên một Việt Nam hôm nay. Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Kỷ niệm 78 năm ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm nay, mỗi người dân Việt Nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu cũng không khỏi xúc động, bồi hồi khi nhớ về ngày 2/9/1945 lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam ở trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc, là dịp để các thế hệ cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ và hào hùng của dân tộc, để tiếp tục hun đúc ý chí, tinh thần yêu nước, cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc./.

DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Dưới chiêu bài dân chủ, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền luận điệu sai trái, chống phá chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định về chính trị tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trên Bloger của “Luatkhoa. org” Vũ Hoàng Anh có bài viết: “Bàn về Dân chủ”, cho rằng dưới sự cai trị của độc tài cộng sản Việt Nam trở thành xã hội phi dân chủ; kỳ thị các dân tộc thiểu số. Thực tế, Vũ Hoàng Anh đang cố tình không hiểu và xuyên tạc tình hình dân chủ và chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa dân là chủ và người dân làm chủ. Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở.

Thực tiễn chứng minh rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mối, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đốì với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rôì nội bộ, làm mất ổn định chính trị, xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, của nhân dân các dân tộc không phân biệt là dân tộc đa số hay thiểu số. Vì lợi ích trực tiếp của nhân dân các dân tộc thiểu số, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm chính trị cả hệ thống chính trị, toàn xã hội. Vì vậy, phải tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc.

Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2023 xếp Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022. Sự tiến bộ của dân chủ xã hội chủ nghĩa, cùng chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được quốc tế công nhận và đánh giá cao chính là chân lý, thực tế mà các thế lực thù địch không thể xuyên tạc hay hoài nghi./.