Tuổi trẻ thanh niên chung tay đoàn kết phòng ngừa,đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước, quyền và lợi ích của nhân dân.
Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023
Việt Tân, Chân Trời Mới Media “tối mắt”
Những luận điệu xuyên tạc chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính
Nước mắt Đại ngoại bên bo bo
Nước mắt Đại ngoại bên bo bo
Trong những năm sau chiến tranh chống Mỹ, tình nước, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn dành thời gian đi thăm các cơ sở sản xuất, trong đó có Hợp tác xã cơ khí đóng tàu Quyết Thắng, xã Nam Dương, huyện Nam Ninh, nay là huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định.
Hôm ấy là ngày 2-4-1983, nhận được điện khẩn của Tỉnh ủy Hà Nam Ninh, ông Vũ Đình Đê, chủ nhiệm hợp tác xã cùng với gần 700 xã viên, dưới sự chỉ đạo của công an huyện khẩn trương chuẩn bị cờ hoa để đón Đại tướng. Không ai bảo ai, tất cả như một guồng máy.
Đúng 9 giờ sáng ngày 2-4-1983, chiếc xe “nhà binh” chở Đại tướng cùng đoàn xe tùy tùng và xe của các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh qua cầu Vân Tràng, theo đê sông Đào đến cổng hợp tác xã... Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước xuống xe giơ tay vẫy chào các xã viên đứng hai bên đường bảo: “Nắng nôi thế này, các đồng chí đứng thế này làm gì cho mệt”. Nói rồi ông bắt tay từng người và đi thẳng xuống phân xưởng đóng sà lan và tàu lưới thép. Ông Đặng Công Thuần năm ấy mới ngoài 40 tuổi được Đại tướng bắt tay đầu tiên, và được hỏi thăm sức khỏe, công việc của phân xưởng.
Ông Thuần kể về những năm chiến tranh chống Mỹ, phân xưởng này ban ngày đi sơ tán vào làng nhưng vẫn mang theo nguyên vật liệu để sản xuất. Tối ưu trở về lán trại, dưới ánh sáng tỏa sáng gắn kết thành những thuyền gỗ nhỏ trọng lượng tải 5 tấn đưa vào miền Nam để phát sóng theo dòng kênh nhỏ khí vũ khí, thực lương, thực phẩm đến cho khu du kích hoặc căn cách mạng nào đó để chiến đấu đáp lại những cuộc quét quét của Mỹ-giả. Sau ngày hòa bình chuyển sang đóng sà lan thép và thuyền xi măng.
![]() |
Đại tướng Võ nguyên Giáp xuống tận tổ sản xuất thăm hỏi từng người. Ông cầm từng thanh thép lên bảo: “Bắt thép này chúng ta nhập từ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, nó quý hơn vàng. Tại thời điểm đất nước ta đang phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các đồng chí cần tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu để xây dựng cơ sở như Bác Hồ Ngộ phải không?”. Mọi người đồng thanh: “Thưa Đại tướng phải ạ”. |
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến bên một con thuyền xi măng đang chuẩn bị hạ phóng xuống dòng sông Đào để thử máy. Ông gõ vào thành thuyền, lấy thanh sắt gõ vào thân con thuyền bảo: “Thuyền này các đồng chí đóng được bao nhiêu ngày rồi?”.- “Thưa Đại tướng, được 27 ngày rồi ạ”, một đồng chí nữ công nhân trả lời. Đại tướng nói ngay: “27 ngày mà xi măng khô, gõ boong boong thế này là đảm bảo kỹ thuật đấy”. Các đồng chí lãnh đạo võ phục và chính quyền tỉnh đi theo ai cũng trầm tĩnh trang hiểu biết thực tế của Đại tướng.
Sau khi đi thăm cả hai phân xưởng, ông về nhà ăn. Lúc này các đồng chí cấp dưỡng đang chuẩn bị bữa ăn chiều cho công nhân, ai ai đều phấn khởi động. Đại tướng mãng ra hiệu cứ làm không cần phải dừng tay. Đại tướng đến bên một mãng và một hầm hầm bo bo (đây là loại mỳ còn nguyên hạt làm các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu viện hỗ trợ. Lúc ấy thiếu tiền thực lương nên những người ăn bình bầu dùng nó để ăn thay bình. Các hộ gia đình thường rang để ăn thay cơm như ăn ngô rang), ông lấy khăn tay mềm nước mắt. Mọi người cảm động nhìn nhau không có tiếng xì xầm. Ông nói với mọi người: “Các đồng chí ạ! Đất nước ta còn khó quá. Đảng và phủ Chính biết nhưng chưa giải quyết được. Các đồng chí cố gắng nỗ lực. Trong chiến tranh chống Mỹ các đồng chí đã đóng tàu thuyền phục vụ kháng chiến, trong hòa bình các đồng chí quyết tâm giữ lấy kho báu quý giá này để xứng đáng với cái tên “Quyết Thắng” mà đơn vị ta mang tên”. Ông nói vừa dứt thì tiếng vỗ tay hoan chiến vang lên trong nhà ăn. Như mọi khó khăn còn thiếu sót của thời kỳ hậu chiến đã được giảm bớt.
Bà Mai Thị Thân, gần 70 tuổi đời, 35 tuổi Đảng, đang cư trú ở thôn Vân Tràng nhớ lại ngày ấy cho biết: “Nhìn thấy Đại tướng bước vào nhà ăn, chúng tôi vừa sống vừa lo. Lễ kỷ niệm lần đầu tiên được gặp ông. Lo vì thức ăn chả có gì đáng kể. Động cơ bo bo. Thức ăn thì chỉ có rau muống dồn xì dầu cọ miến (loại hơi dầu chế biến bằng phương pháp thủ công). Không ngờ Đại tướng rất thông cảm và động viên đáp ứng kịp thời”.
Sau khi ghé thăm cơ sở sản xuất, nơi ăn, nơi ở của cán bộ công nhân viên và xã hội, Đại tướng khen: “Tuy khó khăn nhưng đồng chí ăn ở Phá Sản gọn gàng. Đặc biệt là không có hiện tượng chênh lệch giữa bộ lọc và xã hội. Thế là rất tốt”. Đại tướng trở về hội trường, ông nói nhiều về tình hình biên giới, về việc làm Mỹ cấm vận Việt Nam. Không khí buổi họp tại hội trường rất sôi động.
Những người có mặt trong buổi đón tiếp hôm nay, giờ đây đã trở thành thành ông bà. Có người đã qua đời như chủ nhiệm Vũ Đình Đê… Những kỷ niệm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần ông về thăm Hợp tác xã Quyết Thắng thì mãi mãi không phai mờ. Họ truyền lại cho con cháu những ấn tượng khó quên này để con cháu họ nối tiếp truyền thống cha ông sống xứng đáng với mảnh đất còn ghi dấu chân một vị tướng tài của dân tộc và của cả thế giới.
NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
NÂNG CAO NHẬN THỨC PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
1. Nhận diện quan điểm sai trái
Ngày 28/8/2023, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Tấn công mạng tại Việt Nam và quan tâm của Nhà nước”, nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng; vu cáo Việt Nam “hạn chế” quyên tự do tiếp cận thông tin của người dân; phủ nhận nỗ lực của Chính phủ về công tác quản lý về an toàn, an ninh mạng.

2. Khảng định
Trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã tán phát bài viết có nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng
3. Nâng cao nhận thức để đấu tranh chống lại quan điểm sai trái
Luật An toàn thông tin được ban hành năm 2015 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về an toàn thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Theo đó: “An toàn thông tin mạng mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin” .
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (Gọi tắt là Bộ luật Hình sự) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (gồm 26 Chương và 526 Điều), trong đó các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được quy định tại Mục 2. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XII gồm các Điều 285 đến 294.
Luật An toàn thông tin 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (gồm 8 Chương và 54 Điều).
Luật An ninh mạng 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 (gồm 7 Chương, 43 Điều) [6].
4. GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Thứ nhất: Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng.
Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Thứ hai: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.
Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về ATTT; góp ý xây dựng chương trình giáo dục ATTT mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến ATTT mạng.
Thứ ba: Bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái phát sinh trên không gian mạng.
Hoạt động tấn công không gian mạng rất đa dạng và tinh vi như: làm mất kết nối Internet, đánh sập các website của chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, file, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua usb, đĩa CD, địa chỉ IP, server,…
Thứ tư: Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ và sử dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả trong trường hợp bị tấn công trên không gian mạng.
Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
1. Nhận diện quan điểm sai trái
Ngày 28/8/2023, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Tấn công mạng tại Việt Nam và quan tâm của Nhà nước”, nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng; vu cáo Việt Nam “hạn chế” quyên tự do tiếp cận thông tin của người dân; phủ nhận nỗ lực của Chính phủ về công tác quản lý về an toàn, an ninh mạng.
2. Khảng định
Trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã tán phát bài viết có nội dung xuyên tạc phien họp thư hai cụa Ban Chỉ đạo an toàn, an ninh mạng Quốc gia và các quy định của pháp luật về quản lý trên không gian mạng
3. Nâng cao nhận thức để đấu tranh chống lại quan điểm sai trái
Luật An toàn thông tin được ban hành năm 2015 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về an toàn thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Theo đó: “An toàn thông tin mạng mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin” .
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (Gọi tắt là Bộ luật Hình sự) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (gồm 26 Chương và 526 Điều), trong đó các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng được quy định tại Mục 2. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XII gồm các Điều 285 đến 294.
Luật An toàn thông tin 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 (gồm 8 Chương và 54 Điều).
Luật An ninh mạng 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 (gồm 7 Chương, 43 Điều) [6].
4. GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Thứ nhất: Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền quốc gia, các lợi ích và sự nguy hại đến từ không gian mạng.
Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Thứ hai: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng.
Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về ATTT; góp ý xây dựng chương trình giáo dục ATTT mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến ATTT mạng.
Thứ ba: Bồi dưỡng kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn tấn công mạng và các hình thái phát sinh trên không gian mạng.
Hoạt động tấn công không gian mạng rất đa dạng và tinh vi như: làm mất kết nối Internet, đánh sập các website của chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo; cài gắm vào máy tính cá nhân hoặc lấy tài khoản và mật khẩu; đánh cắp dữ liệu cá nhân (hình ảnh, file, video); tấn công bằng mã độc (theo tệp đính kèm trong email hoặc ẩn trong quảng cáo Skype); tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại (phần mềm diệt virus, các trình duyệt); tấn công qua usb, đĩa CD, địa chỉ IP, server,…
Thứ tư: Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ và sử dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả trong trường hợp bị tấn công trên không gian mạng.
Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
1. Nhận diện luận điệu sai trái
Ngày 26/8/2023, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài “Hội thánh của Đức Chúa Trời được cấp giấy chứng nhận sinh hoạt tôn giáo”; trên trang blog Đối Thoại tán phát bài “Tường niệm nạn nhân của hành vi bạo hành vì niềm tin và tôn giáo”, nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo; vu cáo chính quyền “ngăn cấm” hoạt động của các tôn giáo; đánh tráo bản chất của 07 điểm nhóm mang tên Đức Chúa Trời được cấp phép hoạt động ờ TP Hồ Chí Minh với các hoạt động tà đạo; đồng thời kích động đấu tranh đòi tự do tôn giáo.
2. Khảng định
Trang blog Việt Nam Thời Báo đã tán phát nội dung xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác tôn giáo; vu cáo chính quyền “ngăn cấm” hoạt động của các tôn giáo
3. Cơ sở để đấu tranh
Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh với “thiên tai, địch họa”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã xây dựng nguyên tắc của chính sách dân tộc ở Việt Nam là: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Những nguyên tắc này được quán triệt và thực hiện nhất quán, có hiệu quả trong mọi thời kỳ cách mạng.
Từ khi đất nước thống nhất, quá độ đi lên CNXH, nhất là quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta tiếp tục thực hiện nhất quán quan điểm, nguyên tắc về chính sách dân tộc; đồng thời bổ sung, phát triển những nội dung mới phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Các nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của Đảng và Nhà nước qua các kỳ Đại hội Đảng, đều quan tâm sâu sắc đến việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Hội nghị Trung ương 7 (Khóa IX), Đảng đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc, trong đó nêu rõ những quan điểm cơ bản, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của công tác dân tộc trong thời kỳ mới. Đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ…”1. Quan điểm của Đảng là sự tổng kết thực tiễn nhiều năm thực hiện đường lối, chính sách dân tộc và công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; vừa có giá trị chỉ đạo lâu dài, vừa có ý nghĩa thực tiễn, gắn chặt với thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trong những nội dung quan trọng đó, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh tính chiến lược, nguyên tắc và yêu cầu nhiệm vụ phát triển toàn diện địa bàn vùng dân tộc và miền núi; sự ưu tiên đầu tư phát triển KT - XH và công tác dân tộc là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị.
4. Phương hướng thực hiện công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước
Đảng và Nhà nước đã đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án quan trọng, có tác dụng to lớn đối với đồng bào dân tộc, như: Quyết định135/1998 về Chương trình phát triển KT - XH các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Quyết định 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số… các Nghị quyết về phát triển KT - XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ... Nhờ vậy, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã ngày càng ổn định và có bước phát triển vững chắc. Đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; vấn đề chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo đã có những chuyển biến tích cực; kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư phát triển hơn; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh (bình quân khoảng 3-5%/năm), tốc độ phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, các nhóm dân tộc được kiềm chế; nhiều tỉnh đã cơ bản giải quyết được những bức xúc về nước sinh hoạt, nhà ở, đất ở, đất sản xuất, việc làm…, đồng bào các dân tộc ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, tích cực lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Với tư duy nhạy bén, cách mạng, khoa học, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Từ lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, cần khẳng định đó là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, phù hợp với quy luật, xu thế thời đại, tình hình đất nước, nguyện vọng của nhân dân. Do đó, dựa vào nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) là giải pháp quan trọng hàng đầu, cần quyết liệt thực hiện.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời, xác định rõ đây là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự mất còn của Đảng, chế độ, đất nước và dân tộc.
Thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy, nhân dân có vai trò và sức mạnh vô cùng lớn. Dân là gốc, mọi công việc hệ trọng của quốc gia, dân tộc dù khó khăn, phức tạp đến mấy, nếu có sự đồng thuận, tham gia tích cực của nhân dân thì sẽ thành công và ngược lại, nếu thiếu điều đó sẽ thất bại. Bởi thế, các bậc tiền nhân đã đúc kết, “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Thấu suốt tư tưởng đó, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã luôn triệt để vận dụng, thực hiện vấn đề có tính quy luật ấy trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chúng ta tự hào có Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có Nhân dân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhân dân là lực lượng hùng hậu của cách mạng, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc, nên mọi công việc của Đảng, Nhà nước, của quốc gia - dân tộc đều cần phải dựa vào nhân dân. Nếu không làm vậy, tức là chúng ta đã tự từ bỏ nguồn sức mạnh to lớn của mình. Hơn nữa, trải qua quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đóng góp to lớn đối với đất nước và xác lập mối quan hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân ghi nhận, tin yêu và vinh danh bằng tên gọi thân thuộc: Đảng ta - Đảng của Nhân dân. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân, và điều này đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị các cấp cần phải dựa vào nhân dân, do nhân nhân, vì nhân dân, và chỉ có như vậy mới đạt được hiệu quả thiết thực. Những năm qua, với quan điểm “dân là gốc” là chủ thể của công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định: “thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng”1. Trên cơ sở đó đã có những phương thức sáng tạo để “phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”2 đạt kết quả tích cực. Việc làm trên không chỉ thể hiện ở chủ trương mà được thể chế hóa bằng văn bản với các quy định cụ thể, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng Đảng một cách thuận lợi, rộng rãi, hiệu quả, nhất là trong công tác kiểm tra, giám sát, thiết thực góp phần phòng, chống biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống tổ chức của Đảng.
Điều quan trọng là công tác xây dựng Đảng luôn được gắn chặt với bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, kết hợp với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong các tổ chức Đảng, Nhà nước,… thì việc dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng càng trở nên cấp thiết, quan trọng. Cần phải xác định rõ đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong hệ thống giải pháp được tiến hành đồng bộ để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn luôn sống động, phong phú, nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào, khó khăn, phức tạp đến đâu cũng phải luôn tuân thủ và thấm nhuần tư tưởng: “dân là gốc”, dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, chế độ, thành tựu của công cuộc đổi mới. Bởi, chỉ có như vậy mới tạo được sức mạnh tổng hợp, vượt qua mọi thách thức, trở ngại để thành công. Nếu xa rời quan điểm có tính nguyên tắc “dựa vào nhân dân” tất sẽ thất bại. Cổ nhân có câu “chúng chí thành thành”, có nghĩa là nhân dân là bức thành trì vững chắc nhất, không kẻ thù nào có thể phá vỡ. Tương tự như vậy, ngày nay Đảng ta khẳng định: “xây dựng thế trận lòng dân”3. Đó là thế trận vững chắc nhất trong các loại hình thế trận. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch càng phải dựa vào nhân dân, “bức thành trì” đó, “thế trận đó”. Mới đây, chúng ta đập tan vụ bạo động vũ trang ở Đắk Lắk của lực lượng khủng bố do tổ chức phản động chỉ đạo từ nước ngoài là minh chứng điển hình về việc dựa vào nhân dân. Nhờ có nhân dân trên địa bàn cung cấp thông tin, phối hợp hoạt động nên vụ việc được xử lý nhanh, gọn, hiệu quả, sớm đưa cuộc sống yên bình của nhân dân trở lại bình thường. Nhưng đồng thời cũng để lại bài học quý về “lỗ hổng” “xây dựng thế trận lòng dân”, thể hiện trong việc nắm, quản lý, kiểm soát tình hình địa bàn, đối tượng; đặc biệt, chưa thật gần dân, dựa vào nhân dân. Bởi nhân dân chính là “tai, mắt” của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Các tổ chức, lực lượng phản động dù có xảo quyệt đến mấy cũng không thể qua được mạng lưới “thiên la địa võng” từ nhân dân.
NGÀY 2 THÁNG 9 LÀ NGÀY QUỐC KHÁNH CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NGÀY 2 THÁNG 9 LÀ NGÀY QUỐC KHÁNH CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Ngày 2 tháng 9 là ngày Quốc khánh của nước Việt Nam, sở dĩ gọi là Ngày Quốc khánh vì chính ngày này năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự thật không thể phủ nhận. Song, các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc sự thật này. Trên trang “Baoquocdan”, Quốc Vy có bài viết: “Ngày 2 tháng 9: Quốc khánh hay Quốc hận?”, Y cho rằng, ngày Quốc khánh là ngày Quốc hận. Vì, nó là ngày mở đầu của thời kỳ lầm lạc, đau buồn, ly tán cho dân tộc Việt Nam; người dân không hề được hưởng độc lập, tự do như bánh vẽ của cộng sản. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc vấn đề và chỉ cho Quốc Vy biết rằng:
1. Độc lập là quyền bất khả xâm phạm của một đất nước, một quốc gia, một dân tộc. Độc lập còn có thể hiểu là sự không phụ thuộc của cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc này vào cá nhân, tập thể, xã hội, quốc gia hay dân tộc khác. Độc lập thường có được khi có đấu tranh giải phóng khỏi sự thống trị. Nói cách khác, độc lập là tình trạng không bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác thông qua chủ nghĩa thực dân, sự bành trướng hay chủ nghĩa đế quốc. Độc lập chỉ có thể giành được nhờ việc chống lại đế quốc, thực dân hóa, chống lại sự chia cắt. Độc lập sẽ giúp cho nhân dân sống trong ấm no hạnh phúc, không sợ hãi về những gì chiến tranh, xung đột, bạo loạn gây ra. Tự do là không bị kiểm soát bởi một thế lực nào đối với số phận của cá nhân và dân tộc. Tự do bao gồm các quyền tự do của cá nhân và quyền tự do của một quốc gia. Quyền tự do cá nhân là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà pháp luật cho phép. Quyền tự do của một quốc gia là quyền tự quyết của dân tộc. Với quyền này, các quốc gia phải thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và tính mạng, tài sản của người dân. Có thể khẳng định rằng, dưới sự cai trị của thực dân, phong kiến, người dân Việt Nam bị mất nước, trở thành thân phận nô lệ và chưa bao giờ được hưởng tự do, độc lập.
2. Ngày 2 tháng 9 hằng năm, ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày này đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi nhất trong hành trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới, là ngày chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, đồng thời mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2 tháng 9 trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Chương 1, Điều 13, Mục 4 khẳng định: “Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945”. Từ đây, với tư cách người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên cường, bất khuất đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc và chế độ phong kiến. Ba mươi năm, sau ngày Quốc khánh, ngày 30/4/1975, Đảng ta, quân và dân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên đáng kể. Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của sự ổn định chính trị, tinh thần chiến thắng đói nghèo, đề cao giá trị, nhân nghĩa trong thế kỷ XXI. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. 78 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên một Việt Nam hôm nay. Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Kỷ niệm 78 năm ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm nay, mỗi người dân Việt Nam dù đang ở bất kỳ nơi đâu cũng không khỏi xúc động, bồi hồi khi nhớ về ngày 2/9/1945 lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam ở trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc, là dịp để các thế hệ cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ và hào hùng của dân tộc, để tiếp tục hun đúc ý chí, tinh thần yêu nước, cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc./.
DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

DÂN CHỦ LÀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Dưới chiêu bài dân chủ, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền luận điệu sai trái, chống phá chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định về chính trị tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trên Bloger của “Luatkhoa. org” Vũ Hoàng Anh có bài viết: “Bàn về Dân chủ”, cho rằng dưới sự cai trị của độc tài cộng sản Việt Nam trở thành xã hội phi dân chủ; kỳ thị các dân tộc thiểu số. Thực tế, Vũ Hoàng Anh đang cố tình không hiểu và xuyên tạc tình hình dân chủ và chính sách dân tộc ở Việt Nam.
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa dân là chủ và người dân làm chủ. Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là bản chất của chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở.
Thực tiễn chứng minh rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mối, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đốì với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rôì nội bộ, làm mất ổn định chính trị, xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là sự nghiệp chung của nhân dân cả nước, của nhân dân các dân tộc không phân biệt là dân tộc đa số hay thiểu số. Vì lợi ích trực tiếp của nhân dân các dân tộc thiểu số, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Chính sách dân tộc thể hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Thực hiện chính sách dân tộc là trách nhiệm chính trị cả hệ thống chính trị, toàn xã hội. Vì vậy, phải tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc.
Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2023 xếp Việt Nam đứng thứ 65/150 trong bảng xếp hạng, tăng 12 bậc so với năm 2022. Sự tiến bộ của dân chủ xã hội chủ nghĩa, cùng chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam được quốc tế công nhận và đánh giá cao chính là chân lý, thực tế mà các thế lực thù địch không thể xuyên tạc hay hoài nghi./.
-
Bản báo cáo thiếu khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam Ngày 12/8/2025, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo tình hình nhâ...
-
Bác Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Bác Nguyễn Phú Trọng - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ...
-
PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM KÊU GỌI VIỆT NAM TỪ BỎ “NGOẠI GIAO CÂY TRE” Trên trang BBC News, bài viết “Việt Nam với ‘ngoại giao thức thời’: từ hình...


