Thứ Ba, 9 tháng 7, 2024

Chỉ là “bổn cũ soạn lại” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

 

Chỉ là “bổn cũ soạn lại” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

          - Mới đây, cơ quan Đối ngoại châu Âu (EEAS), đơn vị chuyên trách về chính sách đối ngoại và an ninh của Liên hiệp châu Âu (EU) đã công bố báo cáo thường niên về dân chủ và nhân quyền trên thế giới, trong đó có nội dung về việc thực thi quyền con người ở Việt Nam. Trong báo cáo này, họ tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch và không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam, khi quy chụp: trong năm 2023, Hà Nội “có rất ít bước phát triển tích cực đáng kể về lĩnh vực nhân quyền”.

Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng
 trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

Cần khẳng định ngay rằng, những cáo buộc nói trên của EU phản ánh những định kiến lâu nay của tổ chức này đối với Việt Nam đều chỉ căn cứ vào những thông tin sai trái, cũ rích, chưa được kiểm chứng và không đúng sự thật. Phản bác những cáo buộc nói trên, ngày 25/01/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2023 của EU mặc dù đã phản ánh một số thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng đáng tiếc vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch và không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam. Đồng thời khẳng định: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, coi con người là trung tâm và động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước. Việt Nam luôn nỗ lực nâng cao đời sống và quyền thụ hưởng của người dân. Các quyền và tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Các nỗ lực và thành tựu đảm bảo quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận rộng rãi và đánh giá cao.

Như chúng ta đều đã biết, năm 2023, là năm kinh tế thế giới có nhiều khó khăn do tác động của những biến động địa chính trị và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng kinh tế của Việt Nam vẫn là một điểm sáng trước những cơn gió ngược. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 5,05% (gấp 1,68 lần mức tăng chung của kinh tế thế giới). Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2023 đạt 4.284 USD (tăng 160 USD so với năm 2022). Nhờ đó, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; thu nhập bình quân của người lao động tăng 6,8%; trên 94% số hộ gia đình đánh giá có thu nhập ổn định hoặc cao hơn cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2023 giảm 1,1% so với năm 2022, còn 2,93%, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cho đời sống người lao động, nhất là các nhóm yếu thế, đối tượng chính sách tiếp tục được đẩy mạnh. Năm 2023 đã thực hiện trợ cấp thường xuyên cho trên 1,13 triệu người có công với kinh phí 29 nghìn tỉ đồng/năm; Đề án xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh, đến hết tháng 9/2023 đã hoàn thành 46 dự án nhà ở xã hội khu vực đô thị, quy mô khoảng 20.210 căn. Các chương trình tín dụng ưu đãi cho các đối tượng chính sách cũng được tổ chức triển khai có hiệu quả. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 đạt 0,703 điểm, đến năm 2023 đạt 0,726 điểm, thuộc nhóm nước có trình độ phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 (theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới vào tháng 3/2023 của Liên hợp quốc) tăng 12 bậc, từ vị trí 77 lên vị trí 65 trong bảng xếp hạng toàn cầu.

Cùng với đó, các quyền tự do ngôn luận, tự do internet và tự do tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước ta bảo đảm trên thực tế. Năm 2023, cả nước có 06 cơ quan truyền thông chủ lực đa phương tiện, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí (trong đó, có 319 tạp chí khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Số người dùng internet ở Việt Nam năm 2023 lên tới 77 triệu người, chiếm 79,1% dân số (năm 2022 là 73,2%). Mạng xã hội cũng trở thành nền tảng quan trọng với hơn 70 triệu người tham gia (tương đương 71% dân số). Với các con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á, là một minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay ở Việt Nam có đến 95% người dân có đời sống tín ngưỡng. Năm 2023, Bộ Nội vụ đã ban hành quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho 02 tổ chức (Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Hội thánh Phúc âm toàn vẹn Việt Nam) và chấp thuận đề nghị thành lập Viện Thần học Báp tít Việt Nam. Tính đến tháng 12/2023, Nhà nước đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 02 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Trong năm 2023, có hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo.

Những kết quả đạt được trong thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam nói trên chính là minh chứng khẳng định: những nhận định về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong Báo cáo này của EU chỉ là “Bổn cũ soạn lại”, đây là sự lặp lại những thông tin sai trái, cũ mòn, mang tính quy chụp, không khách quan và không đúng thực tế. Vì vậy, cần kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ./.

Chỉ là “bổn cũ soạn lại” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

 

Chỉ là “bổn cũ soạn lại” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

     - Mới đây, cơ quan Đối ngoại châu Âu (EEAS), đơn vị chuyên trách về chính sách đối ngoại và an ninh của Liên hiệp châu Âu (EU) đã công bố báo cáo thường niên về dân chủ và nhân quyền trên thế giới, trong đó có nội dung về việc thực thi quyền con người ở Việt Nam. Trong báo cáo này, họ tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch và không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam, khi quy chụp: trong năm 2023, Hà Nội “có rất ít bước phát triển tích cực đáng kể về lĩnh vực nhân quyền”.

Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng
 trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

Cần khẳng định ngay rằng, những cáo buộc nói trên của EU phản ánh những định kiến lâu nay của tổ chức này đối với Việt Nam đều chỉ căn cứ vào những thông tin sai trái, cũ rích, chưa được kiểm chứng và không đúng sự thật. Phản bác những cáo buộc nói trên, ngày 25/01/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2023 của EU mặc dù đã phản ánh một số thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng đáng tiếc vẫn tiếp tục đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin sai lệch và không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam. Đồng thời khẳng định: “Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, coi con người là trung tâm và động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước. Việt Nam luôn nỗ lực nâng cao đời sống và quyền thụ hưởng của người dân. Các quyền và tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Các nỗ lực và thành tựu đảm bảo quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận rộng rãi và đánh giá cao.

Như chúng ta đều đã biết, năm 2023, là năm kinh tế thế giới có nhiều khó khăn do tác động của những biến động địa chính trị và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng kinh tế của Việt Nam vẫn là một điểm sáng trước những cơn gió ngược. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 5,05% (gấp 1,68 lần mức tăng chung của kinh tế thế giới). Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2023 đạt 4.284 USD (tăng 160 USD so với năm 2022). Nhờ đó, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; thu nhập bình quân của người lao động tăng 6,8%; trên 94% số hộ gia đình đánh giá có thu nhập ổn định hoặc cao hơn cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2023 giảm 1,1% so với năm 2022, còn 2,93%, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cho đời sống người lao động, nhất là các nhóm yếu thế, đối tượng chính sách tiếp tục được đẩy mạnh. Năm 2023 đã thực hiện trợ cấp thường xuyên cho trên 1,13 triệu người có công với kinh phí 29 nghìn tỉ đồng/năm; Đề án xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh, đến hết tháng 9/2023 đã hoàn thành 46 dự án nhà ở xã hội khu vực đô thị, quy mô khoảng 20.210 căn. Các chương trình tín dụng ưu đãi cho các đối tượng chính sách cũng được tổ chức triển khai có hiệu quả. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 đạt 0,703 điểm, đến năm 2023 đạt 0,726 điểm, thuộc nhóm nước có trình độ phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 (theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới vào tháng 3/2023 của Liên hợp quốc) tăng 12 bậc, từ vị trí 77 lên vị trí 65 trong bảng xếp hạng toàn cầu.

Cùng với đó, các quyền tự do ngôn luận, tự do internet và tự do tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước ta bảo đảm trên thực tế. Năm 2023, cả nước có 06 cơ quan truyền thông chủ lực đa phương tiện, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí (trong đó, có 319 tạp chí khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Số người dùng internet ở Việt Nam năm 2023 lên tới 77 triệu người, chiếm 79,1% dân số (năm 2022 là 73,2%). Mạng xã hội cũng trở thành nền tảng quan trọng với hơn 70 triệu người tham gia (tương đương 71% dân số). Với các con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á, là một minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay ở Việt Nam có đến 95% người dân có đời sống tín ngưỡng. Năm 2023, Bộ Nội vụ đã ban hành quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho 02 tổ chức (Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Hội thánh Phúc âm toàn vẹn Việt Nam) và chấp thuận đề nghị thành lập Viện Thần học Báp tít Việt Nam. Tính đến tháng 12/2023, Nhà nước đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 02 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Trong năm 2023, có hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo.

Những kết quả đạt được trong thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam nói trên chính là minh chứng khẳng định: những nhận định về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong Báo cáo này của EU chỉ là “Bổn cũ soạn lại”, đây là sự lặp lại những thông tin sai trái, cũ mòn, mang tính quy chụp, không khách quan và không đúng thực tế. Vì vậy, cần kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ./.

“Trò” lợi dụng “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

 

“Trò” lợi dụng “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

    - Ngày 18/6, trang VOA Tiếng Việt đăng status “Thêm hàng loạt các tổ chức nhân quyền quốc tế, như: Article 19, Viện Báo chí Quốc tế, Văn Bút Mỹ, Quỹ Nhân quyền bày tỏ “quan ngại” về việc chính quyền Việt Nam bắt giữ blogger - tác giả sách Trương Huy San và luật sư Trần Đình Triển. Đồng thời, kêu gọi Hà Nội hủy bỏ các cáo buộc đối với hai ông”.

Bị can Trương Huy San và Trần Đình Triển

Cần khẳng định, đây là chiêu trò quen thuộc và cũ rích mà một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam thường lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để “diễn trò”, bao che cho hành vi vi phạm pháp luật. Qua đó, kiếm cớ can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam mỗi khi các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý một đối tượng nào đó vi phạm pháp luật.

Như đã biết, ngày 07/6 vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam cựu nhà báo Trương Huy San (Osin Huy Đức) và luật sư Trần Đình Triển (Trưởng Văn phòng Luật sư Vì Dân, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội) để điều tra về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, theo Điều 331, Bộ luật Hình sự.

Trước đó, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) đã ra quyết định khởi tố vụ án “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” xảy ra tại Thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố. Kết quả điều tra ban đầu xác định: Trương Huy San và Trần Đình Triển đã có hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền tự do dân chủ, đăng tải các bài viết trên mạng xã hội facebook xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cơ quan An ninh điều tra xác định, hành vi của Trương Huy San và Trần Đình Triển đã phạm vào tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, theo quy định tại Khoản 2, Điều 331, Bộ luật hình sự. Theo thông tin từ Cơ quan An ninh điều tra, bước đầu tại cơ quan điều tra Trương Huy San và Trần Đình Triển đã thành khẩn khai báo, chấp hành các quy định tại nơi giam giữ.

Sự thật là vậy, thế các tổ chức nêu trên vẫn cố tình lợi dụng “nhân quyền” để cổ súy, dung túng cho hành vi vi phạm pháp luật của hai bị can này, đây là hành động vi phạm nghiêm trọng Công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được đề cập trong các điều ước quốc tế. Đặc biệt, trong Hiến chương Liên Hợp quốc (năm 1945), lần đầu tiên đã quy định về nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Tiếp đó, Nghị quyết số 2625 (năm 1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác tiếp tục được ghi nhận cụ thể và rõ ràng hơn.

Nền tảng pháp lý của nguyên tắc này là các nước, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốc gia. “Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác”. Ngoài ra, Nghị quyết số 2625 còn quy định: “Không quốc gia nào được tổ chức, hỗ trợ, khuyến khích, tài trợ, kích động hay dung thứ cho hành vi lật đổ, khủng bố hay các hoạt động vũ trang trực tiếp nhằm lật đổ bằng bạo lực thể chế của quốc gia khác, hoặc can thiệp vào các cuộc bạo động dân sự ở quốc gia khác”. Theo Nghị quyết số 2625: “Việc sử dụng bất cứ hình thức nào nhằm ngăn cản các dân tộc có bản sắc quốc gia cấu thành hành vi vi phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp”.

Đối với Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật cũng quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, v.v. Thế nhưng, các tổ chức đã nêu vẫn phớt lờ những quy định và nguyên tắc ấy.

Vì vậy, hành động của các tổ chức được VOA Tiếng Việt cổ súy nêu trên đích thị là “trò” lợi dụng vấn đề “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ, nhằm kích động, chống phá Việt Nam. Hành động này cần phải bị vạch mặt, kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ./.

Việc làm phải bị lên án

 

Việc làm phải bị lên án

             – Ngày 11/6 vừa qua, Hạ viện tiểu bang California đã thông qua Nghị quyết ACR-195 của Dân biểu Tiểu bang Evan Low thuộc Đảng Dân chủ công nhận lá cờ của chế độ Ngụy quyền Sài gòn là “lá cờ tự do và truyền thống của Việt Nam”. Đây là việc làm phải bị lên án, kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:

Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam thì đất nước, dân tộc Việt Nam chỉ có duy nhất một Quốc kỳ, đó là lá “Cờ đỏ sao vàng”, được ra đời từ năm 1940. Thiết kế lá cờ có hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng năm cánh lớn. Lá Cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ của Việt Nam được tất cả các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới công nhận, đã, đang và sẽ mãi là đại diện, là biểu tượng cho đất nước, con người Việt Nam trên toàn thế giới.

Còn lá cờ của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn (lá cờ vàng ba sọc đỏ) thực chất là cờ của chế độ tay sai do đế quốc Mỹ dựng nên ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1955 - 1975, nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Thời kỳ tồn tại của lá cờ này gắn liền với những gian khổ, hy sinh, mất mát, chịu cảnh đất nước bị chia cắt của nhân dân miền Nam và cả dân tộc Việt Nam.

Thực tiễn minh chứng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã chung sức, đồng lòng, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, lật đổ chế độ Mỹ - Ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao, ký kết, phát triển các mối quan hệ song phương, đa phương với hầu hết các quốc gia trên thế giới; trong đó, có những quốc gia trước đây đã từng xâm lược Việt Nam. Trong chuyến thăm và làm việc của Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam (tháng 9/2023) hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ đã nâng cấp quan hệ trở thành đối tác chiến lược toàn diện, mở ra chương mới trong quan hệ tốt đẹp giữa hai nhà nước và nhân dân hai nước. Điều này khẳng định quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên cơ sở hợp tác, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.

Tuy nhiên, một bộ phận người dân sống dưới chế độ cũ vì nhiều lý do khác nhau đã tự rời bỏ quê hương, đất nước ra đi từ năm 1975. Mặc dù thời gian đã trôi qua mấy chục năm, nhưng một số người vẫn cố tình không thừa nhận quan điểm, chủ trương và những nỗ lực hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam mà vẫn khư khư ôm lấy quá khứ không đáng có; thậm chí, còn có những việc làm đáng lên án. Đơn cử, như một số người Mỹ gốc Việt đã phối hợp với dân biểu tiểu bang California là Evan Low để soạn thảo, thúc đẩy thông qua Nghị quyết ACR-195 về công nhận lá cờ của chế độ Ngụy quyền Sài gòn là “lá cờ tự do và truyền thống của Việt Nam”.

Đây chính là việc làm sai trái, cổ súy, a dua, hà hơi tiếp sức, bao biện cho sự cái “thây ma” của chế độ cũ, cho lá cờ dưới chế độ Ngụy quyền Sài Gòn hiện nay không tồn tại, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời, cản trở, ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Hòa Kỳ nên cần phải vạch trần, đấu tranh, phê phán./.

 

Quen thói, VOA lại “lu loa” xuyên tạc

 

Quen thói, VOA lại “lu loa” xuyên tạc

       - Lợi dụng việc mới đây đại sứ Việt Nam Mai Phan Dũng phát biểu tại trụ sở Liên hợp quốc về bảo đảm nhân quyền của Việt Nam, ngày 22/6 trang facebook kênh tiếng Việt, Đài VOA đăng bài: “Việt Nam nói họ cam kết bảo vệ nhân quyền, hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương”. Trong đó, đăng tải một số ý kiến có nội dung xuyên tạc, vu cáo Việt Nam rằng: “Chính phủ Việt Nam “đang làm ngược với các lời hứa của mình”, đó là “một mặt họ cam kết chuyển đổi năng lượng xanh, mặt khác họ đàn áp khốc liệt và bỏ tù có động cơ chính trị những chuyên gia bảo vệ môi trường” hay “xu hướng đàn áp nhân quyền tại Việt Nam “ngày càng khốc liệt” với việc bắt bớ gia tăng...

Cần khẳng định ngay rằng: bài phát biểu của đại sứ Mai Phan Dũng tại buổi đối thoại với Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền ngày 19/6 vừa qua là hoàn toàn bảo đảm tính khách quan và chính xác. Bởi vì, xuất phát từ quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhân quyền và thực tế bảo đảm quyền con người của Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên bức tranh xã hội sinh động, tươi đẹp là điều không thể phủ nhận. Việt Nam đã luôn nỗ lực không ngừng để xây dựng, hoàn thiện Hiến pháp, pháp luật để mọi công dân có quyền bình đẳng, được tự do lao động, sáng tạo, cống hiến cho đất nước, xã hội theo khả năng của mỗi người. Con người thực sự trở thành trung tâm, là động lực cho sự phát triển của đất nước.

Cùng với đó, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, thông qua việc tham gia có trách nhiệm các cơ chế, diễn đàn, hội nghị quốc tế; đưa ra những cam kết, lộ trình trong việc thực hiện chuyển đổi năng lượng xanh, giảm khí thải, bảo vệ môi trường, v.v. Điển hình là, tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đưa ra những cam kết cụ thể; đồng thời, đẩy mạnh việc xây dựng, thực hiện kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính của các lĩnh vực; phát triển thị trường carbon và các cơ chế quản lý tín chỉ carbon,... được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Theo Quyền Trưởng đại diện Thường trú Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, Terence Jones bày tỏ ấn tượng với cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và cho rằng tuyên bố này đã khuyến khích các quốc gia khác nâng cao mức cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Mặt khác, ấn tượng khi Việt Nam tập trung vào cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, công bằng, công lý về biến đổi khí hậu để mọi người đều được hưởng lợi. Vì thế, Đài VOA cho rằng: Chính phủ Việt Nam “đang làm ngược với các lời hứa của mình” là không có cơ sở, cố tình xuyên tạc, không thừa nhận những thành tựu, hành động tích cực của Việt Nam trong bảo đảm nhân quyền và bảo vệ môi trường.

Hơn nữa, việc một số người tự xưng cái gọi là “Giới hoạt động cho nhân quyền và khí hậu Việt Nam” lợi dụng việc một số công dân Việt Nam, như: Hoàng Thị Minh Hồng, Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách,... vi phạm pháp luật Việt Nam, đã bị pháp luật xử lý, rồi lu loa rằng: Việt Nam đàn áp khốc liệt và bỏ tù có động cơ chính trị những chuyên gia bảo vệ môi trường là cố tình vu cáo Việt Nam với dụng ý xấu độc, cần phải vạch trần, đấu tranh, lên án./.

Chỉ là “Bổn cũ soạn lại”

 

Chỉ là “Bổn cũ soạn lại”


 - Ngày 26/6/2024, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố Báo cáo tự do tôn giáo năm 2023, trong đó họ quy chụp rằng: Việt Nam vẫn tiếp tục xâm hại, sách nhiễu tự do tôn giáo. Vẫn như những năm trước, Báo cáo tự do tôn giáo năm 2023 được công bố không căn cứ vào tình hình thực tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mà chỉ là phản ánh những định kiến lâu nay của một số tổ chức có quan điểm thù địch đối với Việt Nam. Đó là những thông tin sai lệch, đánh giá thiếu khách quan, không đúng sự thật, hòng quy chụp phi lý, xuyên tạc về tình hình và công tác bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam, trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, được bảo đảm trên thực tế.

Trên thực tế, trong năm 2023, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được nhiều bước tiến, từ công tác lập pháp, hành pháp và đối ngoại tôn giáo. Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; mới đây,, ngày 29/12/2023, Việt Nam đã ban hành Nghị định số 95/2023/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (thay thế Nghị định số 162/2017/NĐ-CP). Đây là sự điều chỉnh rất kịp thời nhằm giải quyết những vướng mắc trong thực tế mà người dân, tín đồ gặp phải, như: vấn đề sở hữu đất tôn giáo; sinh hoạt tín ngưỡng đối với những người bị quản lý, giam giữ tại cơ sở quản lý, giam giữ; bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài; hoạt động của các tổ chức, cơ sở tôn giáo, đặc biệt là vấn để sinh hoạt tôn giáo trên không gian mạng. Năm 2023, Việt Nam phát hành Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Đây là tài liệu chính thống, không chỉ cung cấp những thông tin về chính sách, thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, mà còn khẳng định các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, “Không một cá nhân, tổ chức tôn giáo nào hoạt động theo đúng pháp luật mà bị ngăn cấm”. Các tổ chức tôn giáo được tạo mọi điều kiện hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ và quy định pháp luật. Nhà nước luôn quan tâm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt, những ngày lễ trọng của các tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự. Riêng năm 2023, Việt Nam đã công nhận tổ chức tôn giáo cho 02 tổ chức (Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Hội thánh Phúc âm toàn vẹn Việt Nam) và chấp thuận đề nghị thành lập Viện Thần học Báp tít Việt Nam. Và, tính đến tháng 12/2023, Nhà nước đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 02 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo cũng được quan tâm, tạo điều kiện, góp phần khẳng định chủ trương, chính sách đảm bảo quyền tự do tôn giáo của Việt Nam tới bạn bè quốc tế. Trong năm 2023, có hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện đăng cai, tổ chức các sự kiện tôn giáo quốc tế lớn, như: Giáo hội Công giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu năm 2023; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình; Hội nghị Lãnh đạo Phật giáo ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia; các Hội thánh Tin lành Việt Nam tổ chức Lễ hội “Xuân yêu thương”, v.v. Thực tế trên chứng minh rõ: nếu ở Việt Nam “vẫn tiếp tục xâm hại, sách nhiễu tự do tôn giáo”, như trong Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, chắc chắn các hoạt động tôn giáo không thể sinh động như thế? Cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm khắc đối với những hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước. 

Theo Tre Việt, những nhận định về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo năm 2023 ở Việt Nam trong Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ là “Bổn cũ soạn lại”, không khách quan, không đúng thực tế, cần kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ./.

Lại một việc làm sai trái, phí lý của HRW

 

Lại một việc làm sai trái, phí lý của HRW

          - Ngày 03/7, trang facebook Đài RFA đăng bài: “HRW: EU cần trừng phạt lãnh đạo Việt Nam thay vì cứ Đối thoại Nhân quyền”; trong đó, họ nói rằng: các cuộc Đối thoại Nhân quyền của Liên minh châu Âu (EU) với Việt Nam không hiệu quả và EU cân nhắc các biện pháp trừng phạt. HRW cho rằng EU có thể cân nhắc biện pháp sử dụng hai hiệp định quan trọng là Hiệp định chung về Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa EU và Việt Nam (PCA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) để làm đòn bẩy buộc Hà Nội phải chấm dứt đàn áp nhân quyền.

          Cần khẳng định rõ, đây là phát ngôn hàm hồ của HRW đối với Việt Nam, cần lên án, đấu tranh bác bỏ, bởi:

Như mọi người đều biết mục đích của cuộc Đối thoại Nhân quyền giữa Liên minh châu Âu (EU) với Việt Nam hằng năm, là: nhằm chia sẻ thông tin về quan điểm, chính sách, nỗ lực, thành tựu cũng như thách thức của mỗi bên trong việc bảo đảm quyền con người; thảo luận về các vấn đề cải cách luật pháp và tư pháp về quyền con người; các quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, tôn giáo, hiệp hội và hội họp; lập trường về một số vấn đề quyền con người tại các tổ chức quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc và một số vấn đề mà hai bên cùng quan tâm.

Trên thực tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người đã được quy định trong Hiến pháp, pháp luật. Đồng thời, ban hành nhiều chính sách bảo vệ, thúc đẩy quyền con người; coi con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân. Nhờ đó, trình độ dân trí, đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân được nâng lên,  xã hội ngày càng phát triển, văn minh, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Trong thông cáo báo chí chung giữa EU và Việt Nam sau cuộc Đối thoại Nhân quyền năm 2023 đã nêu rõ: EU hoan nghênh việc Việt Nam phê chuẩn hầu hết các công ước cốt lõi của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Đồng thời, ghi nhận vai trò đi đầu của Việt Nam trong việc ra nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình Hành động Vienna, trong đó tái khẳng định cam kết của cộng đồng quốc tế đối với việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, v.v. Điều này cho thấy mối quan hệ đối tác và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU đang phát triển rất tốt đẹp. Việt Nam sẵn sàng trao đổi cởi mở và thẳng thắn, hợp tác với EU trong vấn đề quyền con người trên tinh thần tôn trọng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau thông qua cơ chế đối thoại thường niên và các khuôn khổ trao đổi song phương khác. Việc tăng cường trao đổi và đối thoại thông qua các cơ chế hợp tác hiện có sẽ giúp EU có đầy đủ thông thông tin khách quan và hiểu đúng hơn về tình hình thực tế việc thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam và EU.

Thế nên việc Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) chỉ là một tổ chức phi chính phủ lại cho rằng: EU cần trừng phạt lãnh đạo Việt Nam thay vì cứ Đối thoại Nhân quyền là hành động can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam - một nước có độc lập, chủ quyền và là quốc gia thành viên của Liên hợp quốc. Hơn thế nữa, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam là những người đại diện cho nguyện vọng, ý chí, lợi ích của đất nước, dân tộc Việt Nam nên sẽ được bảo vệ theo quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế, không thể bị trừng phạt một cách tùy tiện.

Còn việc HRW nêu vấn đề: EU cân nhắc có thể sử dụng hai hiệp định quan trọng là Hiệp định chung về Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa EU và Việt Nam (PCA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) để làm đòn bẩy buộc Hà Nội phải chấm dứt đàn áp nhân quyền là cố tình vu cáo Việt Nam; kích động, chia rẽ mối quan hệ tốt đẹp giữa EU - Việt Nam; đi ngược lại nguyện vọng, lợi ích chính đáng của người dân các nước EU và Việt Nam. Đây là việc làm sai trái, phi lý của HRW cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.  

HRMI cần chấm dứt việc đánh giá thiếu khách quan về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

 

HRMI cần chấm dứt việc đánh giá thiếu khách quan về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

           - Ngày 04/7, trang facebook VOA Tiếng Việt đăng công bố Báo cáo thường niên của tổ chức Sáng kiến Đánh giá Nhân quyền (Human Rights Measure Initiative - HRMI) có trụ sở tại New Zealand cho rằng: tình trạng nhân quyền của Việt Nam tiếp tục suy giảm trong năm 2023. Họ tùy tiện quy chụp: “Nhà nước Việt Nam bắt giữ tùy tiện, người dân bị tra tấn và ngược đãi, cưỡng bức mất tích, hành quyết mà không thông qua Tòa án”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc vô căn cứ, thiếu khách quan và mang tính ác cảm đối với những nỗ lực thúc đẩy, bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Bởi, HRMI chỉ thông qua các cuộc phỏng vấn một số đối tượng phản động, lưu vong có hành vi chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam và dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng, không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam để đưa ra nhận xét sai lệch.  

Cần khẳng định rõ: ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị,… được bảo đảm, bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, được thực hiện minh bạch trong thực tiễn. Hiến pháp năm 2013 đã dành tới 36/120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung, ban hành các luật, bộ luật trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Các quyền này chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng theo đúng chuẩn mực Công ước quốc tế về nhân quyền. Theo đó, tòa án hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử; mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án có hiệu lực của tòa án. Chính vì thế, không có chuyện “Nhà nước Việt Nam bắt giữ tuỳ tiện, người dân bị tra tấn và ngược đãi, cưỡng bức mất tích, hành quyết mà không thông qua Tòa án” như quy chụp xuyên tạc phi lý của HRMI. Mà chỉ có những kẻ lợi dụng các quyền “tự do”, “dân chủ” để chống phá Đảng, Nhà nước, vi phạm pháp luật mới phải chịu sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật Việt Nam. Việc xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật được các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam tiến hành công khai, minh bạch, theo đúng luật định.

Không ai có thể phủ nhận thực tế những thành tựu về thúc đẩy và đảm bảo quyền con người tại Việt Nam thời gian qua. Điều này luôn được quốc tế ghi nhận, đánh giá tích cực. Đầu tháng 5 vừa qua, tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ), nhiều nước đã ghi nhận và đánh giá cao chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người. Các nước hoan nghênh các thành tựu của Việt Nam về phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người, thúc đẩy quyền phụ nữ, quyền của nhóm đồng tính, song tính và chuyển giới, quyền của người dân tộc thiểu số, v.v.

Trong bài viết “Nhân quyền ở Việt Nam: Sự thật hơn lời nói”, tác giả Moisés Pérez Mok, Trưởng Cơ quan thường trú của Hãng thông tấn Mỹ Latinh Prensa Latina tại Hà Nội, khẳng định: những tiến bộ không thể phủ nhận mà Việt Nam đạt được nhờ thực hiện nhất quán chính sách thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Theo nhà báo Moisés Pérez Mokt, quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, cũng như quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam được đảm bảo. Sau 26 năm kết nối internet, Việt Nam đã có hệ thống công nghệ viễn thông hiện đại với độ phổ cập cao. Tính cuối năm 2023, Việt Nam có 78 triệu người sử dụng internet (tăng 21% so với số thuê bao năm 2019). Số thuê bao băng rộng di động là 86,6 triệu thuê bao, tăng 38%. Hiện có khoảng 72.000 hội hoạt động ở Việt Nam thường xuyên, tích cực tham gia đóng góp vào xử lý các vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng của đất nước.

Còn tác giả Grigory Trofimchuk - chuyên gia phân tích chính trị quốc tế, người đã có nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam trong bài “Việt Nam: Thể chế xã hội chủ nghĩa tôn trọng quyền con người” trên báo Độc lập của Nga, nhấn mạnh: một trong những khía cạnh khó khăn nhất của vấn đề nhân quyền là tôn giáo. Tại Việt Nam, một nhà nước xã hội chủ nghĩa, đời sống tôn giáo của người dân hoàn toàn cởi mở. Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, thậm chí còn cao hơn ở Nga. Ngoài ra, ở Việt Nam hiện có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54.000 chức sắc, trên 135.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Nhiều loại hình tín ngưỡng, di tích, đồ thờ cúng được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Thế giới. Tác giả nhấn mạnh điều này có vẻ xa lạ đối với một nhà nước chủ nghĩa xã hội, nhưng đó là sự thật tại Việt Nam.

         Bảo đảm, thúc đẩy quyền con người là một quá trình lâu dài, liên tục và cần sự nỗ lực của mỗi quốc gia. Đặc biệt, với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nguồn lực còn hạn chế và nhiều thách thức, cản trở trong giải quyết các vấn đề quyền con người thì thực hiện đầy đủ các chuẩn mực nhân quyền phải là quá trình lâu dài. Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, giá trị truyền thống, trình độ phát triển, chế độ chính trị,… đều có cách tiếp cận nhân quyền phổ quát là khác nhau; có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu trong việc cân bằng giữa ổn định xã hội với đảm bảo đầy đủ nhân quyền; có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về nhân quyền; không có một mô hình chung cho tất cả các nước, mỗi nước tùy theo đặc thù, điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng.

Vì vậy, HRMI cần chấm dứt ngay việc đánh giá quy chụp thiếu khách quan về những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam./.

 

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2024

Kiểm soát và xử lý tin giả ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn từ cách tiếp cận thể chế

 

Kiểm soát và xử lý tin giả ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn từ cách tiếp cận thể chế

 “Tin giả” đã và đang là một vấn nạn lớn của xã hội hiện đại, sự tồn tại và lây lan của tin giả gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực cho xã hội. Thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực nhằm thiết lập phương thức xử lý, kiểm soát tin giả phù hợp, khoa học, hiệu quả, trong đó, cần chú trọng hơn nữa nhiệm vụ thể chế hóa các cơ chế, quy định chính thức, góp phần xây dựng và duy trì môi trường thông tin lành mạnh, tích cực.

Thực trạng vấn đề tin giả ở Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quá trình chuyển đổi số và sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại nhiều thuận lợi, cơ hội, song cũng đặt ra nhiều rủi ro, thách thức đối với đời sống xã hội, thì một trong những nguy cơ tiềm ẩn nhiều yếu tố tiêu cực chính là “tin giả” (fake news). Tin giả được hiểu cơ bản là hệ thống những tin tức, câu chuyện không có thật, có yếu tố bị xuyên tạc, gán ghép và nội dung bị biến đổi theo ý đồ chủ quan của người chuyển tải… dưới nhiều hình thức, như thông tin xuyên tạc, bị bóp méo, bịa đặt, hình ảnh và đoạn phim bị cắt ghép, làm lệch bối cảnh, chuyển tải nội dung sai sự thật... Tin giả được chia làm hai loại chính: Thông tin hoàn toàn không chính xác được cố tình đăng tải, lan truyền và thông tin “có thể” có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính xác (do người tạo lập không kiểm chứng được toàn bộ sự thật trước khi chia sẻ hoặc cố tình phóng đại sự việc). Trong bối cảnh bùng nổ truyền thông, nhất là truyền thông xã hội, tin giả từ chỗ là một nguy cơ, hiện tượng mang ý nghĩa tiêu cực, dần trở thành vấn nạn nghiêm trọng, hiện hữu ngày càng phổ biến hơn và để lại nhiều hệ lụy lớn, sâu sắc đối với đời sống xã hội. Hiện nay, sự phát triển không ngừng của các nền tảng công nghệ thông tin và các ứng dụng trên mạng internet ngày càng mở rộng không gian mới (được gọi là “không gian mạng”), khiến các hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội là một trong những lĩnh vực đầu tiên phải chịu sự tác động trực tiếp.

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh và các phương tiện truyền thông xã hội thuộc nhóm cao trên thế giới, do đó, xu hướng đọc tin trên không gian mạng của công chúng ngày càng gia tăng, khiến vấn nạn tin giả có nhiều điều kiện để hoành hành trong thời gian lâu dài. Hiện nay, có khoảng 77 triệu người Việt Nam đang sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội (chiếm 97,8% dân số từ 13 tuổi trở lên); lượng người dùng cũng có xu hướng tăng (năm 2022 tăng 6,9% so với năm 2021) cho thấy tiềm năng, phạm vi ảnh hưởng to lớn của các phương tiện truyền thông xã hội, ngày càng có sự chiếm lĩnh không gian thông tin. Nhìn chung, những loại tin giả ở Việt Nam thường tập trung vào các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, phần lớn các nội dung tin giả đều hướng đến âm mưu xuyên tạc sai sự thật về tình hình, thực trạng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, như tung tin sai lệch về tình hình dịch bệnh COVID-19, về chính sách phát triển đô thị, xây dựng dự án, giải tỏa mặt bằng, công tác điều động, bổ nhiệm cán bộ,… hòng lôi kéo, dụ dỗ, kích động những người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin thực hiện các hành động biểu tình, đòi yêu sách, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã  hội, đến lòng tin, sự ủng hộ của nhân dân đối với chính quyền. Thâm độc hơn, chúng còn thông tin ra ngoài dư luận quốc tế, tạo hình ảnh một đất nước méo mó, xấu xí, luôn có nhiều nổi cộm, là “điểm nóng” trong các vấn đề về tự do, dân chủ, nhân quyền, phân hóa giàu - nghèo… hướng tới đối tượng người xem là một bộ phận công chúng quốc tế chưa có hiểu biết nhiều về nước Việt Nam.

Thứ hai, mặc dù công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt được những kết quả tích cực, góp phần nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước và củng cố niềm tin trong nhân dân; tuy nhiên, nhiều đối tượng lại cố tình xuyên tạc việc xử lý cán bộ sai phạm, xâm hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc chỉ là tình trạng “đấu đá nội bộ”, tranh giành quyền lực trong Đảng. Bên cạnh đó, chúng thường tạo lập, xuất bản, lan truyền các bài viết, bài phân tích, nói chuyện trên các nền tảng mạng xã hội bên ngoài hòng đưa ra những nhận định, đánh giá mang tính chất xuyên tạc, sai lệch bản chất vụ việc, sự kiện, vấn đề còn hạn chế, bất cập trong nước để ra sức lợi dụng, hướng lái thông tin nhằm mục đích gây phương hại đến lợi ích, uy tín của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, phủ nhận những thành tựu trong công tác cán bộ thời gian qua.

Thứ ba, nội dung các tin giả thường xuyên liên quan đến công tác cán bộ và có mưu đồ xuyên tạc lý lịch, đời tư đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành, địa phương; trong đó, tập trung vào việc bịa đặt lai lịch, sự nghiệp, gia đình của đội ngũ cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị nước ta; đồng thời, xây dựng và lan truyền những thông tin thất thiệt về công tác cán bộ, quy hoạch, điều động, sắp xếp, bố trí nhân lực trong hệ thống chính trị,… hòng tạo dư luận để gia tăng hiềm khích, kích động, phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân. Với việc lợi dụng thành tựu của khoa học - công nghệ, các thế lực thù địch, phản động cố tình cắt ghép, tạo ra các video, những hình ảnh không đúng sự thật, thâm độc hơn, chúng còn tách các bài nói, bài phát biểu của các cán bộ lãnh đạo ra khỏi bối cảnh cụ thể để xuyên tạc, bóp méo thông điệp gốc.

Thứ tư, các thế lực thù địch, phản động còn dùng thủ đoạn phổ biến là tạo lập, xây dựng các tài khoản cá nhân trên các phương tiện truyền thông xã hội mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, người đứng đầu chính quyền các cấp, người nổi tiếng…, đồng thời, chỉnh sửa các thông số kỹ thuật của tập tin thời gian để đăng tải tin giả, tin sai sự thật nhằm dẫn dắt dư luận; lợi dụng các sự kiện “nóng”, các vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội để tạo dựng thông tin giả mạo, đánh lừa dư luận. Bên cạnh đó, xuất hiện hiện tượng nhiều đối tượng có động cơ vụ lợi kinh tế, thực hiện các hành vi tạo dựng tin giả, phát tán trên không gian mạng, nhất là các phương tiện truyền thông xã hội để thu hút người dùng tương tác nhằm thu về lợi ích từ việc bán hàng, ủng hộ, tài trợ bằng tiền, lợi ích vật chất... gây bức xúc, hoang mang dư luận. Mặt khác, tình trạng tràn lan các video có nội dung nhảm nhí, giật gân trên các phương tiện truyền thông xã hội nhằm lôi kéo người xem để kiếm tiền ngày càng có xu hướng tăng lên. Thậm chí, một số đối tượng tìm mọi cách để nổi tiếng trên không gian mạng, kể cả việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, sản xuất các nội dung phản cảm, thiếu tính giáo dục, giả mạo thông tin, kích động bạo lực, bôi nhọ, xuyên tạc chính quyền...

Tất cả những loại hình, nội dung tin giả trên, dù xuất hiện theo phương thức và phát đi từ nguồn nào, cũng đều gây ra ảnh hưởng tiêu cực, để lại những hệ lụy lớn đối với sự phát triển của đất nước nói chung và của các địa phương nói riêng; do đó, cần chủ động nhận diện, phát hiện, kiểm soát và xử lý, cũng như giảm thiểu tác hại của chúng. Đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hình nhiều chủ trương, chính sách nhằm nhanh chóng phát hiện, xử lý, ngăn chặn những thông tin sai trái, xấu, độc, có nguy hại cho uy tín của hệ thống chính trị(6); đồng thời, chú trọng xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ chế pháp lý để kiểm soát, xử lý tin giả trong môi trường các phương tiện truyền thông xã hội và bùng nổ thông tin thông qua nhiều thiết chế chính thức của Nhà nước, như Bộ Thông tin và Truyền thông (cụ thể là Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam thuộc Cục Phát thanh - Truyền hình và Thông tin điện tử), Bộ Công an, Thanh tra Nhà nước và thanh tra của các địa phương,... Nhìn chung, mỗi cơ quan, đơn vị đều có chức năng, thẩm quyền khác nhau trong việc phát hiện, kiểm soát và xử lý tin giả. Về vấn đề này, Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản; tăng cường năng lực quản lý không gian mạng. Xây dựng các cơ quan báo chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin, tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin”(7).

Tuy vậy, chính từ đặc thù trong công tác quản lý thông tin cũng như nhiều đặc điểm khác về tâm lý số đông, văn hóa, tính cách... con người Việt Nam trong xã hội hiện đại, ít nhiều tạo thêm nhiều cơ hội cho tin giả hình thành và lan truyền với tốc độ nhanh chóng. Do vậy, nhiệm vụ cấp thiết trước mắt là chủ động xây dựng, cải thiện, nâng cao chất lượng hệ thống các cơ chế, giải pháp nhằm kiểm soát, xử lý và giảm thiểu tác hại của tin giả một cách có hiệu quả trên tinh thần “tăng cường quản lý và phát triển các loại hình thông tin, truyền thông trên internet. Kiên quyết loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(8).

Công an huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tống đạt quyết định, xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân về hành vi “Lợi dụng phương tiện truyền thông xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức” trên facebook_Ảnh: TTXVN

Những khó khăn, thách thức

Một là, tình trạng phát tán tin giả, tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, độc hại trên các phương tiện truyền thông xã hội trong nước và nước ngoài đang ở mức đáng báo động và có diễn biến phức tạp, theo chiều hướng gia tăng, trong khi công tác đấu tranh, kiểm soát, quản lý thông tin, truyền thông, các hành vi đưa tin vẫn chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, khoa học, tính hiệu quả chưa cao. Hơn nữa, một bộ phận người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội có tâm lý cho rằng, khi cung cấp, phát tán thông tin trên các nền tảng phương tiện truyền thông xã hội của nước ngoài sẽ khó bị phát hiện danh tính, có suy nghĩ “vô danh nên vô trách nhiệm”, không bị xử lý, dẫn tới việc tự do phát ngôn và không để ý đến hậu quả.

Hai là, người dân hiện khó có căn cứ, cơ sở để xác định đâu là “tin thật” nếu cơ quan chức năng không kịp thời xác nhận, do đó, tin giả dễ dàng được phát tán với số lượng theo cấp số nhân, nhất là về những vấn đề “nóng”, thời sự, được nhiều người quan tâm... Mặt khác, dù số lượng các trang mạng xã hội trong nước được cấp phép khá lớn, nhưng chưa phát huy hiệu quả thực tế, lượng người sử dụng cũng như tính năng tương tác, sự thuận tiện còn thấp; mức độ tác động, ảnh hưởng đến dư luận xã hội hạn chế; phạm vi cung cấp nội dung hẹp, theo từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể nên khó thu hút được người sử dụng. Trong khi đó, các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài xuyên biên giới với nhiều tính năng được cập nhật liên tục, phù hợp với nhu cầu người sử dụng, có những tác động lớn đến xã hội. Chính vì chưa xây dựng được “hệ sinh thái số” đủ mạnh, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân, phụ thuộc vào bên ngoài, nên dẫn tới những bất cập, khó khăn trong thực hiện công tác quản lý, đấu tranh với những vi phạm của người sử dụng nhằm bảo đảm môi trường không gian mạng lành mạnh và hạn chế những tác động tiêu cực.

Ba là, hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý hành vi tạo lập và lan truyền tin giả. Do đó, có nhiều hành vi, trường hợp tạo lập, lan truyền tin giả trên không gian mạng hoặc không gian thực trong xã hội khó áp dụng được quy định của Luật An ninh mạng, Bộ luật Hình sự, pháp luật hành chính… để xử lý. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt về phòng, chống tin giả tại Việt Nam

Bốn là, các doanh nghiệp trong nước còn gặp nhiều khó khăn về vốn, hạn chế về công nghệ, trình độ quản lý nên các sản phẩm dịch vụ internet, nhất là các dịch vụ truyền thông xã hội ra thị trường còn yếu, không đủ sức hấp dẫn. Việc phải chấp hành nghiêm các quy định về quản lý nội dung thông tin, tên miền, nghĩa vụ tài chính số đối với các doanh nghiệp cũng làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, ít thu hút người tham gia đầu tư; nội dung và tương tác ít, không phong phú, nên hầu hết người dân vẫn sử dụng các ứng dụng xuyên biên giới tiện lợi hơn, như Facebook, Youtube, Google,… để thỏa mãn nhu cầu chia sẻ, bình luận, trao đổi thông tin.

Những nhiệm vụ, giải pháp nhằm thể chế hóa cơ chế kiểm soát và xử lý tin giả ở nước ta thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề an toàn thông tin, an toàn mạng, phòng, chống tin giả; chú trọng nhiệm vụ nâng cao nhận thức, khả năng nhận diện đặc điểm, dạng thức, nguồn gốc... thông tin giả cho đội ngũ cán bộ cơ quan có chức năng, trách nhiệm quản lý, cũng như người dân. Mặt khác, tăng cường phối hợp, liên kết giữa các cơ quan chuyên môn với các đơn vị khoa học - công nghệ nhằm gia tăng việc sử dụng các phần mềm nhận diện tin giả. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền trong đấu tranh với tin giả cần được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, bảo đảm các yếu tố sau: 1- Hoạt động tuyên truyền phải bảo đảm tính kịp thời và có tính lan tỏa tới phạm vi rộng các nhóm công chúng, chú trọng sử dụng các chuyên gia, người có hiểu biết sâu về các lĩnh vực cần tuyên truyền, đồng thời các thông điệp tuyên truyền phải có chất lượng, hấp dẫn, phù hợp với từng đối tượng; 2- Tăng cường nội dung tuyên truyền liên quan tới thực hiện các quy định của pháp luật về an ninh mạng để nâng cao nhận thức của người dùng các phương tiện truyền thông xã hội trong phòng, chống tin giả. Trong đó, cơ quan thực hiện công tác tuyên truyền phải chủ động, thường xuyên phân tích, làm rõ, cung cấp thông tin liên quan tới các hành vi vi phạm Luật An ninh mạng, góp phần nâng cao nhận thức của người dùng các phương tiện truyền thông xã hội về công tác phòng, chống tin giả.

Thứ hai, cần nghiên cứu, tiến hành sửa đổi Luật An ninh mạng năm 2018 theo hướng có quy định cụ thể, rõ ràng, bảo đảm định tính hóa và định lượng hóa những tiêu chí để áp dụng chế tài đối với mọi hành vi của cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc sản xuất, phát tán cũng như sử dụng tin giả. Trong đó, cần xây dựng định nghĩa rõ ràng về khái niệm “tin giả” để dễ nhận diện hơn trong thực tế; đồng thời không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn gắn với tinh thần liêm chính, khoa học cho các cơ quan quyền lực công chịu trách nhiệm quản lý, kiểm soát việc tuân thủ Luật An ninh mạng. Mỗi cơ quan, tổ chức cần xây dựng những bộ quy tắc, quy định về thông tin nội bộ, bảo mật của đơn vị mình; xử lý nghiêm những hành vi phát tán thông tin nội bộ không được phép của các thành viên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hiệu quả hoạt động của đơn vị; quy định về tư cách cá nhân khi phát ngôn trên trên truyền thông…

Thứ ba, chú trọng phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong quản lý, xử lý tin và và tăng cường các điều kiện bảo đảm công tác phòng, chống và xử lý tin giả; không ngừng cập nhật kiến thức mới, nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, đồng thời phải đầu tư trang thiết bị, công nghệ đủ hiện đại nhằm phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và xử lý kịp thời vấn nạn tin giả hiệu quả, tránh để rơi vào tình thế bị động dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó, cần tập trung nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống cơ quan chuyên trách tư vấn chính sách và giải pháp phòng, chống tin giả. Trước hết, cần phát huy hơn nữa vai trò, tính hiệu quả của Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam; khẩn trương triển khai thực hiện xây dựng những cơ chế, chính sách để hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet, tạo động lực sản xuất, đăng tải nội dung số trung thực, chính xác; xây dựng những ứng dụng truyền thông xã hội đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu người dùng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm sự phụ thuộc vào các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, trong đó tập trung vào 4 mảng dịch vụ chính, cụ thể: Mạng xã hội; các chia sẻ video, hình ảnh; công cụ tìm kiếm trực tuyến; nền tảng thương mại điện tử…

Thứ tư, cần sớm ban hành quy định về quy trình xử lý tin giả và phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có liên quan trong kiểm soát và xử lý tin giả. Ở nước ta hiện nay, chưa có một bộ quy chế chính thức về quy trình tiếp nhận và xử lý tin giả cũng như trách nhiệm của các bên có liên quan trong quá trình tiếp nhận, xử lý. Sự ra đời của Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam tuy thể hiện bước tiến lớn về nhận thức và thực tiễn đối với vấn đề “tin giả”, tuy nhiên, để bảo đảm tính minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn thì phải tiếp tục thể chế hóa một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Mặt khác, yêu cầu các ứng dụng truyền thông xã hội xuyên biên giới, như Facebook, Google, Youtube, Tiktok… thực hiện nghiêm các quy định đã có, cam kết không lưu trữ, truyền phát những nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam; đồng thời, hợp tác chặt chẽ trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu độc…

Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và thiết chế, luật pháp hóa việc nâng cao kỹ năng và trách nhiệm xã hội phòng, chống tin giả cho người dân; xử lý nghiêm, kịp thời những hành vi tạo lập và phát tán tin giả theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, sớm đưa việc giáo dục kỹ năng số vào các cơ sở giáo dục; nâng cao kỹ năng cho người đọc tự bảo vệ mình, phân biệt được tin đúng, tin giả, tin sai sự thật và tích cực tham gia vào quá trình đấu tranh phòng, chống tin giả của đất nước. Chú trọng nâng cao ý thức, nhận thức của người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, bảo đảm sự sáng suốt trong tiếp nhận và xử lý thông tin, theo dõi sát thông tin chính thống, không chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, chưa được xác thực, tránh gây hoang mang dư luận, tạo hiệu ứng, tâm lý tiêu cực; kịp thời thông báo đến cơ quan chức năng các trường hợp đăng thông tin bịa đặt, sai sự thật. Đồng thời, các cơ quan thực thi pháp luật cũng cần tăng cường rà soát, xử lý nghiêm túc, cương quyết đối với những cá nhân cố tình phát tán thông tin sai sự thật trên các phương tiện truyền thông xã hội, gây hoang mang cho người dân./.