Thứ Tư, 15 tháng 1, 2025

Lật tẩy trò “giải thưởng nhân quyền” của tổ chức phản động “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”

 

Lật tẩy trò “giải thưởng nhân quyền” của tổ chức phản động “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”

   - Vừa qua trên không gian mạng, các tổ chức phản động ra sức cổ súy cho việc trao cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” của tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” cho ba phạm nhân đang chấp hành án phạt tù là: Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận và Đặng Bá Phước. Đây là “trò” không mới của các thế lực thù địch, phản động núp dưới chiêu bài “nhân quyền” để cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật nhằm tạo “ngọn cờ” chống đối trong nước.

Tre Việt xin nêu chân dung của những kẻ được “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” trao cho cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” năm 2024 để bạn đọc rõ bộ mặt thật cùng “trò hề” của các thế lực thù địch, phản động núp bóng “nhân quyền”. Đầu tiên là Bùi Văn Thuận ở Thanh Hóa. Đây là trường hợp bị Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 08 năm tù giam, 05 năm quản chế và bị tước quyền công dân, quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước thời hạn 05 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về tội “Tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Bị xử lý mức phạt như vậy do Thuận là người tạo lập, quản trị và sử dụng tài khoản facebook “Thuan Van Bui (Cha già Dân tộc)” để đăng tải, chia sẻ, phát tán nhiều bài viết có nội dung xúc phạm uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và tại địa phương; xuyên tạc, bịa đặt, kích động người dân không tuân theo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, kích động chống phá, gây bất bình, phẫn nộ trong quần chúng Nhân dân. Tiếp theo là Đặng Đăng Phước  Đắk Lắk. Đặng Đăng Phước bị Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 08 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến tháng 8/2022, Phước đã viết, tải từ mạng Internet các bài viết có nội dung xấu độc vu khống, xúc phạm, bôi nhọ uy tín, danh dự Nhà nước; phỉ báng chính quyền Nhân dân và đăng tải các bài viết này lên trang facebook cá nhân “Đặng Phước”, đồng thời sử dụng Email cá nhân gửi các bài viết có nội dung nêu trên đến các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Phước còn trực tiếp phổ nhạc, đánh đàn và hát những bài hát có nội dung không đúng sự thật, phỉ báng chính quyền Nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân với mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuối cùng nhưng không kém phần nguy hiểm là Đỗ Nam Trung ở Nam Định. Trung đã bị Tòa án Nhân dân tỉnh Nam Định tuyên phạt 10 năm tù giam, 04 năm quản chế vì đã có hành vi đăng tải các video có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền Nhân dân, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.

Hành vi của ba đối tượng nêu trên đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam, hùa theo những giá trị dân chủ, nhân quyền do các tổ chức phản động lưu vong, các thế lực thù địch chống phá Nhà nước Việt Nam với mục đích sâu xa là kích động người dân không còn tin vào chính quyền, chế độ, chia rẽ mối đoàn kết dân tộc, cuối cùng là để lật đổ chế độ, biến Việt Nam thành miếng mồi ngon cho ngoại bang chi phối, cắn xé. Hành vi của những đối tượng trên không thể coi là vì mục đích bảo vệ nhân quyền cho người dân Việt Nam như các thế lực thù địch, phản động tung hô được.

Như vậy, không cần biện giải, chúng ta đều rõ: cái gọi là Giải thưởng nhân quyền Việt Nam và tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đích thị là con cờ chính trị nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Hoạt động của chúng là núp bóng giá trị nhân quyền” trong mọi lĩnh vực để công khai ủng hộ, cổ súy số đối tượng chống đối trong nước hoạt động, khuếch trương thanh thế, thu hút tài trợ từ các thế lực thù địch chống Việt Nam ở bên ngoài. Do đó, cần phải lật tẩy lên án, đấu tranh bác bỏ cái gọi là “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” năm 2024 - một chiêu trò thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động./.

Bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam là không thể phủ nhận

 

Bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam là không thể phủ nhận

       – Ngày 8/1, kênh tiếng Việt, Đài RFA đăng bài: “Đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ thứ 28: “Cần giám sát các cam kết cụ thể của Việt Nam””, trong đó đăng tải ý kiến không đáng tin cậy của một số phần tử phản động, có thâm thù với Nhà nước, chế độ về kết quả của cuộc đối thoại nhân quyền lần này.

Việt Nam luôn thúc đẩy và bảo đảm quyền con người
của người dân theo chuẩn mực quốc tế (Ảnh: minh họa)

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đối thoại Nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ là hoạt động thường niên, được chính phủ hai nước rất quan tâm, nhằm đánh giá những kết quả của mỗi bên về việc thực thi, bảo đảm nhân quyền. Tại cuộc Đối thoại Nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ 28 mới đây, hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề nhân quyền, bao gồm việc thực hiện các khuyến nghị được đưa ra trong Đánh giá Định kỳ Phổ quát (UPR) của Liên Hiệp quốc về Việt Nam và đạt được những kết quả quan trọng. Ngay sau đối thoại, phía Mỹ ra thông cáo cho biết cả hai nước cam kết tăng cường hợp tác thông qua các cuộc đối thoại và trao đổi có hiệu quả.

Bên cạnh đó, tháng 9/2024 vừa qua, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua kết quả rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam. Trong đó, Việt Nam thông báo đến Hội đồng Nhân quyền quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra tại Phiên đối thoại về báo cáo quốc gia vào tháng 5/2024, đạt tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong 4 chu kỳ. Việt Nam tái khẳng định cam kết và chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và sự coi trọng đối với Cơ chế UPR và Hội đồng Nhân quyền. Đồng thời, tiếp tục tăng cường khuôn khổ pháp luật về quyền con người, thông qua ban hành, sửa đổi một số văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Các tiến bộ mọi mặt của Việt Nam về hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và quyền các nhóm dễ bị tổn thương... đã được các đại biểu ghi nhận. Nhiều nước hoan nghênh khuyến khích những nỗ lực và thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, đặc biệt trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai. Một số tổ chức phi chính phủ nhấn mạnh đã được tạo điều kiện tham gia đóng góp vào tiến trình UPR ở Việt Nam và chia sẻ thông qua tham gia UPR đã có nhiều đề xuất của mình được Chính phủ tiếp thu, triển khai trên thực tiễn, nhất là trong bảo đảm bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ, thúc đẩy phát triển bền vững, v.v.

Thực tế đó đã minh chứng cho quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán, đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Chính phủ cùng những thành tựu to lớn trong thực thi, bảo đảm nhân quyền của Việt Nam hoàn toàn là sự thật, không thể phủ nhận. Song, Đài RFA vẫn “lo bò trắng răng” khi đăng tải những ý kiến lo những chuyện không đâu, hoàn toàn phi lý. Việc bà Hoàng Thị Minh Hồng - người đã vi phạm pháp luật Việt Nam, bị các cơ quan chức năng kết án ba năm tù giam về tội danh “trốn thuế” liên quan đến các dự án môi trường phát biểu rằng: “... cần giám sát và hỗ trợ để Việt Nam hoàn thành các cam kết cụ thể” hay ý kiến của một người tự xưng là nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội cho rằng: “những đối thoại nhân quyền cần đi vào thiết thực hơn, có những chế tài răn đe nhất định nếu Việt Nam không thực hiện” đã cho thấy sự cố tình xuyên tạc, suy diễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam và không đáng tin cậy./.

Giúp Cuba làm điện mặt trời - tại sao không?

 

Giúp Cuba làm điện mặt trời - tại sao không?

         – Vừa qua, theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bộ Công thương Việt Nam đã cử đoàn chuyên gia sang giúp Cuba phát triển điện mặt trời, góp phần giúp Cuba không thiếu điện. Nhưng trên Facebook Việt tân ngày 12/01 có bài nhắc đến: các dự án sai phạm, nhiều quan chức bị kỷ luật, các bế tắc trong sử dụng điện mặt trời,... để cho đây là “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng”. Thực tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế ngày càng được thúc đẩy, việc Việt Nam cử đoàn chuyên gia sang hỗ trợ Cuba phát triển điện năng lượng mặt trời là một hành động đúng, dựa trên qua ba cơ sở chính sau.

Một là, Việt Nam có kinh nghiệm và năng lực trong phát triển năng lượng mặt trời. Mặc dù Việt Nam vẫn đang đối mặt với một số vấn đề trong việc triển khai và quản lý các dự án năng lượng mặt trời, nhưng không vì thế mà phủ nhận nhiều thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này. Trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã triển khai 140 dự án điện năng lượng mặt trời trên khắp cả nước với trên 20 dự án dự án lớn, có công suất từ 50 MWp trở lên được triển khai thành công; vươn lên trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về công suất lắp đặt điện mặt trời. Việc Việt Nam có những sai phạm và thách thức trong quá trình phát triển là điều khó tránh khỏi; đặc biệt khi lĩnh vực này còn khá mới mẻ và phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, những sai lầm này cũng mang lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu, giúp Việt Nam không chỉ hoàn thiện hệ thống quản lý mà còn có thể chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia khác, bao gồm Cuba.

Hai là, Hợp tác quốc tế không chỉ là hỗ trợ mà còn là cơ hội học hỏi lẫn nhau. Hỗ trợ Cuba không có nghĩa là Việt Nam đang “dạy” Cuba từ vị trí vượt trội, mà là một quá trình hợp tác đôi bên cùng có lợi. Cuba là một quốc gia có lịch sử phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng sinh khối và điện gió. Trong qua trình này, Cuba không chỉ hợp tác riêng với Việt Nam mà còn hợp tác với nhiều quốc gia khác có trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý cao hơn chúng ta. Do đó Việt Nam và Cuba hợp tác trong lĩnh vực năng lượng mặt trời không chỉ giúp Cuba tiếp cận với công nghệ và kinh nghiệm của Việt Nam mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam học hỏi từ những thế mạnh và cách tiếp cận độc đáo của Cuba và các đối tác khác. Ngoài ra, việc tham gia vào các dự án quốc tế giúp Việt Nam khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác bền chặt với Cuba – một đối tác truyền thống và lâu năm của Việt Nam.

Ba là, nâng cao trách nhiệm quốc tế và tinh thần đoàn kết giữa các quốc gia. Việt Nam và Cuba có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, được xây dựng trên nền tảng của sự tương trợ và chia sẻ; nhất là trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ, chúng ta đã được Cuba giúp đỡ đặc biệt về chính trị, tinh thần, vũ khí, trang bị vượt trên cả thông lệ quốc tế. Ngày nay, trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với các thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu, việc hỗ trợ nhau phát triển năng lượng sạch là trách nhiệm không chỉ của một quốc gia mà còn là của cộng đồng quốc tế. Do đó, việc Việt Nam đóng góp kiến thức, kinh nghiệm để giúp đỡ một quốc gia khác là hành động thể hiện tinh thần trách nhiệm và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Thực tế, hành động này không chỉ phản ánh tinh thần đoàn kết, trách nhiệm quốc tế mà còn là cơ hội để Việt Nam học hỏi, nâng cao năng lực và khẳng định vị thế của mình. Những khó khăn trong nước không nên là lý do để ngăn cản Việt Nam đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Chính từ những thử thách, Việt Nam sẽ càng có thêm động lực để hoàn thiện mình và lan tỏa giá trị tích cực ra thế giới. Vì thế, quan điểm cho rằng Việt Nam không nên hỗ trợ Cuba phát triển năng lượng mặt trời vì còn nhiều vấn đề nội tại là một cái nhìn phiến diện và thiếu cơ sở./.

Nhận định “hàm hồ”

 

Nhận định “hàm hồ”

       – Trong thời gian gần đây, Nghị định 168/2024/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 168) về xử phạt vi phạm giao thông đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Ngày 14/01 có bài viết trên trang Facebook Việt Tân cho rằng nghị định này đang “tạo bức xúc, gây bất mãn trong người dân và có nguy cơ dẫn đến rối loạn xã hội”. Đây là những lập luận rất “hàm hồ”, thiếu cơ sở và không phản ánh đúng bản chất, mục tiêu của Nghị định 168, bởi:

Nghị định 168 góp phần nâng cao ý thức người dân. Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định 168 là răn đe và giáo dục người tham gia giao thông. Việc tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm, như: vượt đèn đỏ, lái xe khi đã uống rượu bia, không đội mũ bảo hiểm,... không chỉ là hình thức trừng phạt mà còn nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật lệ giao thông. Nhờ đó, ý thức của người dân dần được cải thiện, từ việc chấp hành nghiêm túc các quy định đến tự giác tôn trọng sự an toàn của mình và cộng đồng.

Góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Theo thống kê của Bộ Giao thông Vận tải, các quốc gia áp dụng mức xử phạt nghiêm khắc đối với vi phạm giao thông thường có tỷ lệ tai nạn giao thông thấp hơn so với các quốc gia không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả. Việc thực thi Nghị định 168 đã góp phần giảm số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, giảm thiểu thương vong và tổn thất kinh tế. Thực tế, ngày 14/01, đại diện Cục CSGT cho biết, trật tự an toàn giao thông đã có nhiều chuyển biến tích cực sau nửa tháng (từ ngày 01/01/2025 đến ngày 14/01/2025) thực hiện Nghị định 168; Tình hình TNGT cũng đã có chuyển biến rõ rệt, giảm cả 03 tiêu chí so với cùng kỳ và thời gian trước liền kề; toàn quốc xảy ra 681 vụ TNGT, làm 365 người chết, 453 người bị thương, so với cùng kỳ giảm 355 vụ (-34,27%), giảm 47 người chết (-11,41), giảm 426 người bị thương (-34,24%); so với thời gian trước liền kề giảm 347 vụ (-34,53%), giảm 94 người chết (-20,47%), giảm 301 người bị thương (-39,92%).

Hướng đến mục tiêu xây dựng văn hóa giao thông. Nghị định 168 không chỉ nhằm xử phạt mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng văn hóa giao thông lành mạnh, nơi mọi người đều hiểu rõ và tự giác chấp hành luật pháp. Một xã hội với ý thức giao thông tốt không chỉ giảm thiểu tổn thất về người và tài sản mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống.

Lợi ích lâu dài vượt xa bất tiện tạm thời. Cái mới khi áp dụng vào thực tế, sẽ tạo tâm lý phản ứng ban đầu trước thay đổi. Sự bức xúc hay bất mãn của một số người trước Nghị định 168 chủ yếu xuất phát từ việc chưa quen với những quy định nghiêm ngặt hoặc cảm thấy áp lực khi phải thay đổi thói quen giao thông cũ. Đây là một phản ứng tự nhiên của con người trước các biện pháp mới; nhưng tâm lý này chỉ mang tính tạm thời, cần thời gian để thích nghi. Người dân cần được tuyên truyền, giải thích để hiểu rằng, những biện pháp nghiêm khắc này không phải là “trừng phạt” mà là một phần của nỗ lực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Khi người dân hiểu rõ mục đích và lợi ích của Nghị định 168, họ sẽ dần chấp nhận và tuân thủ. Điều này đã được chứng minh ở nhiều quốc gia khác, nơi các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đã giúp cải thiện đáng kể ý thức chấp hành luật giao thông. Đó là sự giảm thiểu số vụ tai nạn giao thông – một vấn đề đã và đang gây tổn thất lớn cho xã hội, bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, cũng như xây dựng một văn hóa giao thông hiện đại, văn minh. Những lợi ích lâu dài mà nó mang lại cho xã hội là không thể phủ nhận.

Với các tác động thực tế trên, Nghị định 168 không gây rối loạn mà ngược lại, giúp xã hội trở nên trật tự hơn, tốt đẹp hơn. Ý kiến cho rằng Nghị định này gây “bức xúc, bất mãn” cho người dân nói chung và “rối loạn xã hội” là không có căn cứ; là ý kiến xuất phát chủ yếu từ một số cá nhân có tư tưởng thù địch hoặc “hàm hồ”, a dua theo các đối tượng thù địch./.


Những kẻ “có tật, giật mình”

 

Những kẻ “có tật, giật mình”

       - Ngày 09/11/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 147/2024/NĐ-CP  về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; có hiệu lực thi hành từ ngày 25/12/2024. Theo Nghị định 147, phạm vi áp dụng sẽ bao gồm toàn bộ các tổ chức, cá nhân ở cả trong nước và nước ngoài có liên quan đến hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ trên Internet. Đây chính là hành lang pháp lý cho việc quản lý hoạt động của đại lý Internet, điểm truy nhập Internet công cộng và thiết lập cơ chế quản lý tên miền quốc gia “.vn”, nhằm bảo vệ an ninh mạng và đảm bảo tính minh bạch trên không gian mạng, v.v. Thế nhưng, nhiều phần tử cơ hội, chống phá với những lập luận vô căn cứ,… vu cáo Việt Nam xâm phạm quyền tự do ngôn luận. Luận điệu chúng rêu rao rằng: Nghị định 147 như là “công cụ đàn áp tự do ngôn luận”; Nhà nước Việt Nam “bịt miệng nhân dân”, vi phạm nhân quyền, v.v. Đây là những luận điệu chống phá hòng tẩy chay việc thực hiện Nghị định 147, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, cổ xúy cho những tư tưởng và hành động sai trái.

Thứ nhất, tự do ngôn luận đã được hiến định ngay trong Hiến pháp (năm 2013) của nước Việt Nam: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Còn theo quy định tại Điều 19, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối. Và, khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người.

Thứ hai, hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cung cấp thông tin, dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam có sử dụng dịch vụ cho thuê lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam, gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước. Các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng mạng xã hội để lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình, gây rối làm mất trật tự an toàn xã hội, mất ổn định chính trị nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Do vậy, việc ban hành Nghị định 147 sẽ tạo khung pháp lý quan trọng để yêu cầu các nền tảng mạng xã hội phối hợp hiệu quả với cơ quan chức năng; đồng thời, tôn trọng, tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, thực tiễn đã minh chứng: mạng xã hội là “mảnh đất mầu mỡ” cho nhiều đối tượng xấu lợi dụng để phát tán thông tin thất thiệt nhằm mục đích câu view, câu like, hoặc giả mạo tài khoản, đánh cắp thông tin để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khủng bố tinh thần, ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân, v.v. Phần lớn các đối tượng đều sử dụng thông tin giả để đăng nhập, lừa đảo nên việc truy vết gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong các vụ việc lừa đảo trực tuyến đang diễn ra tràn lan trên không gian mạng và có xu hướng gia tăng.

Vì thế, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 147 là cần thiết, nhằm xây dựng một môi trường lành mạnh, hữu ích để bảo vệ quyền con người, ngăn chặn những hành vi lệch chuẩn trên không gian mạng, gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này hoàn toàn phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, cũng như thực tiễn pháp lý ở nhiều quốc gia trên thế giới; hoàn toàn không phải là “công cụ đàn áp tự do ngôn luận” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động rêu rao. Chỉ những kẻ e ngại và phản đối Nghị định này là đang vi phạm pháp luật hoặc cố tình tiếp tay cho cái xấu, cái ác mới “có tật, giật mình”, nhân danh “quyền tự do ngôn luận” để che đậy những việc làm sai trái. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác và đấu tranh loại bỏ./.

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2025

LẬT TẨY THỦ ĐOẠN “ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN” CỦA VŨ ĐỨC KHANH

 

LẬT TẨY THỦ ĐOẠN “ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN” CỦA VŨ ĐỨC KHANH

Từ khi Việt Nam giành được độc lập sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, Việt Nam đã thực hiện thành công kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thống nhất đất nước và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua gần 40 năm đổi mới đất nước, thế và lực, vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng lên, nhờ đó, mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng các giá trị của cuộc sống trong hoà bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Bất chấp sự thật đó, các thế lực thù địch vẫn tăng cường đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta, nhất là lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền để làm chệch hướng con đường phát triển của Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý là bài viết “Học hỏi từ Nhật Bản sau 1945: Con đường dẫn tới tự do, dân chủ và thịnh vượng cho Việt Nam” của blogger Vũ Đức Khanh được trang baotiengdan.com đăng tải. Vũ Đức Khanh với thủ đoạn “đổi trắng thay đen”, đã xuyên tạc nghiêm trọng thực tiễn đời sống chính trị – xã hội ở Việt Nam, nhất là về thể chế, hệ thống chính trị và đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đây là điều cần được nhận diện và đấu tranh loại bỏ, trả lại đúng sự thật đang diễn ra ở Việt Nam – nơi được coi là mảnh đất đáng sống, được nhiều người trên thế giới yêu thích lựa chọn là điểm đến.

Thứ nhất, “sự trì trệ của thể chế” là lập luận chủ quan, áp đặt của blogger này. Vũ Đức Khanh đã cố tình không hiểu thể chế chính trị ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam lựa chọn. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền – đây là sự tin tưởng của toàn thể nhân dân và dân tộc Việt Nam đối với Đảng, vì tất cả các đảng khác đã tự giải tán hoặc chấm dứt hoạt động, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước Việt Nam và toàn xã hội. Qua gần 40 năm đổi mới đất nước, từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã lọt vào nhóm nước thu nhập trung bình, với giá trị thương mại nằm trong 30 nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và bản lĩnh của Đảng, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đang tiếp tục được đẩy mạnh; việc đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị đang là một cuộc cách mạng, được triển khai đồng bộ, quyết liệt, thận trọng và được nhân dân, dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Mỹ và tất cả các nước đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam đều đã công nhận thể chế chính trị ở Việt Nam, ghi nhận, đánh giá cao hiệu quả của thể chế chính trị mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam xây dựng.

Thứ hai, Vũ Đức Khanh thổi phồng Việt Nam quá lệ thuộc Trung Quốc là phi thực tế. Bằng lối tư duy áp đặt chủ quan cá nhân, blogger này xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, xuyên tạc thành quả đường lối đối ngoại và chính sách ngoại giao “độc lập, tự chủ”, “mềm dẻo, linh hoạt”, “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế trên tinh thần bình đẳng, đôi bên cùng có lợi” của Việt Nam. Trong khi đó, cả truyền thông phương Tây và truyền thông Trung Quốc đều đánh giá cao đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam là cân bằng lợi ích các nước lớn, không lệ thuộc vào bất cứ đối tác nào, và đây là thành quả nổi bật của trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, giúp Việt Nam có được “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế”.

Thứ ba, “một dân tộc đang mất niềm tin” là sự xuyên tạc trắng trợn của Vũ Đức Khanh. Thực tế cho thấy, toàn thể nhân dân trong cộng đồng 54 dân tộc anh em ở Việt Nam đều đang phấn khởi, tin tưởng, đoàn kết, thống nhất cao dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán xác định, Nhân dân là chủ thể, động lực quyết định của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để chuẩn bị tốt nhất các điều kiện bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với những thành quả trong đẩy mạnh đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, mọi người dân Việt Nam đang được bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân, được thụ hưởng cuộc sống thật sự tốt hơn cả về vật chất, tinh thần so với trước đây, nên các tầng lớp nhân dân ngày càng tin tưởng, phấn khởi, tự hào và quyết tâm xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, “sánh vai với các cường quốc năm châu” theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng và vận hành của hệ thống chính trị.

Như vậy, các lập luận của Vũ Đức Khanh trên trang baotiengdan.com chỉ là thủ đoạn hết sức đen tối, phản ánh sự trắng trợn, tráo trở với chiêu thức “đổi trắng thay đen” không hề mới, dựa trên quan điểm chủ quan, duy ý chí, áp đặt của cá nhân, vô cùng phi lý và đi ngược lại thực tiễn xây dựng, vận hành thể chế, khả năng của hệ thống chính trị và sự hiệu quả của đường lối, chính sách đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Đây là thủ đoạn xuyên tạc sự thật bẻ cong nhằm gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam, cần được chúng ta nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh loại bỏ, vì nó không chỉ vô lý mà còn đi ngược lại với lương tri và phẩm giá của con người./.

CÂU HỎI “NGÂY THƠ” CỦA CAO NGUYÊN VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

CÂU HỎI “NGÂY THƠ” CỦA CAO NGUYÊN VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Kết quả tái đắc cử nhiệm kỳ 2026 – 2028, lần thứ hai liên tiếp vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc cho thấy sự tham gia tích cực của Việt Nam trong các hoạt động quốc tế và sự nỗ lực mạnh mẽ thực hiện những cam kết của Việt Nam về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Phủ nhận điều này, Cao Nguyên đã đăng bài: “Hồ sơ nhân quyền tồi tệ Việt Nam vẫn 2 lần đắc cử Hội đồng nhân quyền LHQ – Vì sao?” trên trang Rfavietnam. Nội dung bài viết của Y cho rằng Việt Nam đã tận dụng “kẽ hở” của cơ chế ứng cử và bầu cử để “giành ghế” trong hội đồng. Đây là điều không lạ với những kẻ mượn cớ để công kích, xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam! Những luận điệu của Cao Nguyên là sai trái, cần đấu tranh, bác bỏ.

Thứ nhất, kết quả Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là khách quan, đúng nguyên tắc, xứng đáng; không phải là sự lợi dụng “kẽ hở”. Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc gồm 47 thành viên, có tôn chỉ, nguyên tắc, mục đích, nhiệm vụ rất rõ ràng; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại; trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc. Tất cả các nước thành viên Liên Hợp quốc đều có quyền ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc và khi bỏ phiếu tại Đại hội đồng để bầu thành viên, các nước thành viên Liên Hợp quốc thường xem xét những đóng góp của từng ứng cử viên trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cũng như những cam kết tự nguyện của họ trong lĩnh vực này. Sự thật đó, chứng tỏ những luận điệu, dẫn chứng của Cao Nguyên cho rằng Việt Nam trúng cử chỉ là do “điều đình”, “kêu gọi” trong bỏ phiếu chỉ là sự ngây ngô và thiển cận! Bởi, Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền là chính đáng, trên cơ sở bỏ phiếu khách quan, đúng nguyên tắc của các nước tham gia và Hội đồng kiểm duyệt phiếu.

Nhìn lại từ lần đầu tiên, năm 2013, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số 14 nước thành viên mới. Lần bầu cử thứ hai, nhiệm kỳ 2023 – 2025, nhóm châu Á – Thái Bình Dương là khu vực có sự cạnh tranh cao nhất cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ này với 7 nước giới thiệu ứng cử từ giữa năm 2020 và không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam là một trong 14 quốc gia đã trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025 với số phiếu cao. Kết quả này, đã bác bỏ luận điệu sai trái của Cao Nguyên cho rằng hình thức bỏ phiếu giúp “các quốc gia độc tài” dễ dàng “ủng hộ lẫn nhau”, “hay bầu cho nhau”!

Thứ hai, kết quả bầu cử cho Việt Nam không chỉ là kết quả do sự tham gia hoạt động tích cực mà còn là sự tín nhiệm của các quốc gia bầu Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, trong các nhiệm kỳ Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là sự thành công của những tiếp nối nhiều đóng góp và thực hiện cam kết quốc tế về quyền con người. Đặt con người là mục tiêu, động lực cho sự phát triển, các ưu tiên của Việt Nam là việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chuyển đổi số và quyền con người; thông báo Việt Nam đã thực hiện hoàn toàn gần 90% số khuyến nghị theo cơ chế UPR năm 2019. Ông Jean-Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp – Việt thì cho rằng: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”. Khi Việt Nam tái cử lần thứ hai liên tiếp 2026-2028, Đại sứ Riyad Mansour – Trưởng phái đoàn quan sát viên thường trực Palestine tại Liên Hợp quốc, đánh giá Việt Nam là quốc gia có truyền thống đứng về phía tự do, công lý. Như vậy, những dấu ấn về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam là minh chứng bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam không “cải thiện nhân quyền” nhằm xuyên tạc việc Việt Nam tái đắc cử vào Hội đồng nhân quyền của Cao Nguyên là sai trái!

Mỗi lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là một trong những minh chứng khẳng định thành tựu nhân quyền ở Việt Nam. Cho dù, có những kẻ đơm đặt luận điệu xuyên tạc thì những đánh giá, những thành tựu về nhân quyền Việt Nam là không thể phủ nhận. Với thông điệp: Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người – cho tất cả mọi người, trong nhiệm kỳ 2026 – 2028 tới, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam tin tưởng sẽ tiếp tục có nhiều đóng góp hơn nữa vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới; cùng Hội đồng Nhân quyền phấn đấu vì hòa bình, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội loài người.

Bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam là không thể phủ nhận

 

Bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam là không thể phủ nhận

          – Ngày 8/1, kênh tiếng Việt, Đài RFA đăng bài: “Đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ thứ 28: “Cần giám sát các cam kết cụ thể của Việt Nam””, trong đó đăng tải ý kiến không đáng tin cậy của một số phần tử phản động, có thâm thù với Nhà nước, chế độ về kết quả của cuộc đối thoại nhân quyền lần này.

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đối thoại Nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ là hoạt động thường niên, được chính phủ hai nước rất quan tâm, nhằm đánh giá những kết quả của mỗi bên về việc thực thi, bảo đảm nhân quyền. Tại cuộc Đối thoại Nhân quyền Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ 28 mới đây, hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề nhân quyền, bao gồm việc thực hiện các khuyến nghị được đưa ra trong Đánh giá Định kỳ Phổ quát (UPR) của Liên Hiệp quốc về Việt Nam và đạt được những kết quả quan trọng. Ngay sau đối thoại, phía Mỹ ra thông cáo cho biết cả hai nước cam kết tăng cường hợp tác thông qua các cuộc đối thoại và trao đổi có hiệu quả.

Bên cạnh đó, tháng 9/2024 vừa qua, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua kết quả rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam. Trong đó, Việt Nam thông báo đến Hội đồng Nhân quyền quyết định chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị các nước đưa ra tại Phiên đối thoại về báo cáo quốc gia vào tháng 5/2024, đạt tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong 4 chu kỳ. Việt Nam tái khẳng định cam kết và chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và sự coi trọng đối với Cơ chế UPR và Hội đồng Nhân quyền. Đồng thời, tiếp tục tăng cường khuôn khổ pháp luật về quyền con người, thông qua ban hành, sửa đổi một số văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Các tiến bộ mọi mặt của Việt Nam về hoàn thiện thể chế, pháp luật về quyền con người, phát triển kinh tế-xã hội, đổi mới sáng tạo, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và quyền các nhóm dễ bị tổn thương... đã được các đại biểu ghi nhận. Nhiều nước hoan nghênh khuyến khích những nỗ lực và thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, đặc biệt trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai. Một số tổ chức phi chính phủ nhấn mạnh đã được tạo điều kiện tham gia đóng góp vào tiến trình UPR ở Việt Nam và chia sẻ thông qua tham gia UPR đã có nhiều đề xuất của mình được Chính phủ tiếp thu, triển khai trên thực tiễn, nhất là trong bảo đảm bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ, thúc đẩy phát triển bền vững, v.v.

Thực tế đó đã minh chứng cho quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán, đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Chính phủ cùng những thành tựu to lớn trong thực thi, bảo đảm nhân quyền của Việt Nam hoàn toàn là sự thật, không thể phủ nhận. Song, Đài RFA vẫn “lo bò trắng răng” khi đăng tải những ý kiến lo những chuyện không đâu, hoàn toàn phi lý. Việc bà Hoàng Thị Minh Hồng - người đã vi phạm pháp luật Việt Nam, bị các cơ quan chức năng kết án ba năm tù giam về tội danh “trốn thuế” liên quan đến các dự án môi trường phát biểu rằng: “... cần giám sát và hỗ trợ để Việt Nam hoàn thành các cam kết cụ thể” hay ý kiến của một người tự xưng là nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội cho rằng: “những đối thoại nhân quyền cần đi vào thiết thực hơn, có những chế tài răn đe nhất định nếu Việt Nam không thực hiện” đã cho thấy sự cố tình xuyên tạc, suy diễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam và không đáng tin cậy./.

Nhận thức đúng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy

 


Nhận thức đúng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy

          Việc sắp xếp tổ chức bộ máy công quyền theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Chúng ta xác định đây là một cuộc cách mạng tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch không ngừng gieo rắc tư tưởng phản động vào dòng chủ lưu của đất nước, nhằm xuyên tạc, kích động, chống phá…

Chủ trương đúng, quyết tâm cao

Thời gian gần đây, thông tin về việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, sắp xếp, cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả trở thành chủ đề chính, nổi bật trên tất cả các loại hình, ấn phẩm báo chí-truyền thông. Chủ đề này cũng thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của truyền thông quốc tế. Dư luận tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam đều đánh giá cao và kỳ vọng vào sự đột phá mạnh mẽ của Việt Nam trong lĩnh vực này. Nhiều chuyên gia, học giả quốc tế đã có những bài viết phân tích, đánh giá, bày tỏ tin tưởng vào quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cải cách bộ máy. Trong hoạt động đối ngoại, khi tiếp xúc với nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo cấp cao các nước, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin về chủ trương lớn này của Việt Nam, đồng thời nhận được sự quan tâm, tin tưởng của bạn bè quốc tế.

Thông qua hội nghị các cấp, các cuộc tiếp xúc cử tri, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin kịp thời, giải đáp thắc mắc, tiếp thu kiến nghị của cử tri về công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nhận được sự đồng tình, ủng hộ, thống nhất rất cao của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Các hoạt động hội thảo, tọa đàm về chủ đề này cũng được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Giới chuyên gia, nhà lãnh đạo, nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân bày tỏ kỳ vọng lớn vào cuộc cách mạng mới của đất nước, đồng thời có nhiều hiến kế, đề xuất, kiến nghị có giá trị, sát thực tiễn, nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương lớn của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ nhất
Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết việc thực hiện
Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017
 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Có thể nói, cuộc cách mạng về cải cách tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của đất nước đã và đang nhận được sự quan tâm to lớn của nhân dân và dư luận quốc tế. Sự đồng thuận, kỳ vọng của nhân dân chính là cơ sở, nền tảng tinh thần vững chắc để Đảng, Nhà nước ta quyết tâm, quyết liệt thực hiện bằng được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. Trong bài viết với tựa đề “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “… Để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị…”.

Sự khẳng định tính tất yếu và quyết tâm phải làm nhanh, làm đồng bộ, chính xác, hiệu quả các bước đi, lộ trình tinh gọn bộ máy của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta cũng chính là quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Điều này khẳng định, Đảng, Nhà nước ta đã xác định đúng và trúng vấn đề. Tinh gọn bộ máy không chỉ là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước mà còn là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Việt Nam sẽ gặp nhiều rào cản, khó khăn, chậm trễ… trong hội nhập quốc tế nếu không quyết liệt tinh gọn bộ máy vốn đã và đang quá cồng kềnh hiện nay.

Thấy gì từ những luận điệu xuyên tạc, chống phá?

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc cải cách để tinh gọn, bảo đảm cho bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là một đòi hỏi tất yếu. Đây là thời điểm chín muồi, hội tụ các yếu tố cần và đủ để chúng ta thực hiện cuộc cách mạng của thời đại mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từ dấu mốc Đại hội XIV của Đảng.

Trong lúc hệ thống chính trị các cấp đang chủ động, nỗ lực triển khai các hình thức, giải pháp sắp xếp, tinh gọn bộ máy với tinh thần Trung ương nêu gương thì không gian mạng cũng liên tục xuất hiện các sản phẩm truyền thông mang tư tưởng thù địch, đi ngược lại chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube… thời gian gần đây liên tục xuất hiện các bài viết, video clip của một số đối tượng phản động là người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những thành phần bất mãn với Tổ quốc, sống lưu vong, lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền tư tưởng phản động, xuyên tạc chống phá Đảng, chống phá đất nước.

Bám vào những thông tin về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được đăng tải trên hệ thống báo chí, truyền thông trong nước, những đối tượng này vận dụng chiêu bài cắt ghép, xuyên tạc thông tin, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” để lèo lái, lừa bịp dư luận. Thủ đoạn của chúng là “hóng hớt” thông tin từ mạng xã hội, lắp ghép vào thông tin, hình ảnh trên báo chí chính thống trong nước để nói phải thành trái, đổi trắng thay đen. Chúng móc nối với một số đối tượng cực đoan trong nước để thực hiện những cái gọi là “trao đổi”, “phỏng vấn” với những đối tượng tự xưng, tự phong là “học giả”, “chuyên gia” để phân tích, bình luận tình hình chính trị trong nước. Chúng bám vào thông tin về việc một số đồng chí nguyên là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước bị xử lý kỷ luật, gán ghép thông tin này với lộ trình tinh gọn bộ máy để chụp mũ, quy kết chúng ta “thanh trừng nội bộ”…

Chúng ta đều hiểu rõ, cuộc cách mạng nào cũng đều phải trả giá, hy sinh. Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy, chắc chắn sẽ có một bộ phận lớn cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước… dôi dư, mất việc làm, ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống gia đình. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta rất nhân văn, giải quyết có lý, có tình nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự xáo trộn tâm lý xã hội và cuộc sống của những đối tượng bị ảnh hưởng. Bám vào thực tế này, các đối tượng phản động, thù địch liên tục, thường xuyên tung tin thất thiệt nhằm kích động, lôi kéo, cổ xúy các hành vi cực đoan gây mất ổn định chính trị và đoàn kết nội bộ. Những sản phẩm truyền thông độc hại này được chúng triệt để tận dụng mạng xã hội đăng tải, lan truyền với mức độ, cường độ ngày càng nhiều. Mục đích của chúng là gây nhiễu dư luận, gây rối nội bộ, phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị, làm lung lạc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; phá hoại cuộc cách mạng của Việt Nam trong thời đại mới…

Thống nhất nhận thức, kiên trì hành động

Yêu cầu đầu tiên và trước hết là phải tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động từ trong Đảng và hệ thống chính trị các cấp. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy không phải là việc làm “nhất thời” như các thế lực thù địch rêu rao, mà thực chất là chúng ta đã triển khai thực hiện từ lâu, trọng tâm là giai đoạn 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, kết quả đạt được theo yêu cầu đề ra vẫn còn khiêm tốn, thực tế còn tồn tại nhiều điểm nghẽn, bất cập cần khẩn trương tháo gỡ. Đảng ta đã chỉ rõ, cho đến nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ…

Những hạn chế, tồn tại đó là lực cản lớn, gây lãng phí, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Nguyên nhân là do chúng ta còn chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Những hạn chế, yếu kém, tồn tại đã được Đảng, Nhà nước chỉ rõ, thẳng thắn thừa nhận. Việc triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy được làm trước hết từ Trung ương đã thể hiện rõ tính nêu gương, tiền phong gương mẫu từ trên xuống.

Sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết, trên hết từ trong Đảng là nhân tố nòng cốt, trung tâm để tạo sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và toàn dân. Để có sự thống nhất, đoàn kết thực chất, bền vững, bên cạnh việc tin tưởng, ủng hộ, đồng hành với chủ trương lớn của Đảng, đòi hỏi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước phải có chính kiến, thái độ rõ ràng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng cực đoan, phản động, thế lực thù địch.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, kẻ thù của cách mạng Việt Nam là thực dân, đế quốc xâm lược và các thế lực tay sai. Cuộc cách mạng trong thời đại mới về tinh gọn bộ máy, kẻ thù của chúng ta bên cạnh các thế lực thù địch, phần tử phản động còn là cái “tôi” ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ, sự yếu kém của bản lĩnh, chủ nghĩa cá nhân. Để cách mạng thành công, phải đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, đồng thời phải đấu tranh với chính cái “tôi” tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống ngay từ nội bộ.

Kiểm định xe máy là đang ủng hộ xe máy điện của VinFast?

 

Kiểm định xe máy là đang ủng hộ xe máy điện của VinFast?

        - Trong thời gian gần đây, việc đề xuất kiểm định định kỳ xe máy gây ra nhiều tranh luận trong dư luận. Cùng với đó là việc Công ty cổ phần VinDT của tỷ phú Phạm Nhật Vượng ra mắt trung tâm đào tạo, sát hạch lái xe thì trên trang facebook của Việt Tân có ý kiến cho rằng, quy định kiểm định này nhằm “ủng hộ xe máy điện của VinFast”, vì xe máy điện không phải kiểm định khí thải. Khi phân tích kỹ quan điểm này, không có đủ căn cứ thực tế, logic và có nguy cơ tạo hiểu lầm về chính sách.

Để làm rõ, trước hết, ta cần hiểu rằng, xe máy sử dụng động cơ xăng, nhất là các xe cũ, thường thải ra lượng lớn khí độc hại như CO, NO2, SO2 và bụi mịn, rất có hại cho cơ quan hô hấp của con người. Việc kiểm định xe máy, đặc biệt là kiểm tra khí thải, sẽ giúp loại bỏ khỏi lưu thông những phương tiện không đạt tiêu chuẩn nhằm mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm không khí, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, kiểm định còn giúp phát hiện các hệ thống, bộ phận không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, như: phanh, đèn, lốp xe,... sẽ giảm nguy cơ tai nạn. Đây là một chính sách phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhằm đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông. Như vậy, việc kiểm định không phải để hướng đến thúc đẩy bất kỳ sản phẩm cụ thể nào mà tập trung vào lợi ích cộng đồng, bao gồm môi trường và an toàn giao thông.

Hiện nay và trong những năm tới, do không phải kiểm định, không bị chế tài hạn chế nên xe điện có tiềm năng phát triển tốt hơn. Nhưng việc hưởng lợi là bình đẳng cho mọi đối tượng; xe máy điện VinFast không phải là đối tượng duy nhất; xe máy điện từ các thương hiệu khác, cả trong nước và quốc tế, như: Pega, Dat bike, Osakar,… cũng được hưởng lợi từ các chính sách khuyến khích giảm khí thải. VinFast, với tư cách là doanh nghiệp sản xuất xe điện lớn tại Việt Nam, có sự hiện diện mạnh mẽ, nhưng các chính sách khuyến khích xe điện không nhằm mục tiêu thúc đẩy riêng họ mà tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các hãng xe. Nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đang chuyển dần sang phương tiện thân thiện với môi trường như xe điện. Đây là xu hướng không thể đảo ngược nhằm giảm ô nhiễm và bảo vệ trái đất, không chỉ riêng VinFast mà tất cả các hãng xe điện đều được hưởng lợi từ chính sách này.

Quan điểm “kiểm định xe máy là để ủng hộ xe máy điện của VinFast” không có đủ căn cứ và mang tính suy diễn, không chính xác. Điều đó có thể khiến người dân hiểu lầm rằng: kiểm định xe máy không vì lợi ích cộng đồng, mà phục vụ lợi ích kinh tế cho một doanh nghiệp. Điều này làm suy giảm niềm tin của người dân vào chính sách của Nhà nước. Quan điểm sai lệch này có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực đối với chính sách giảm khí thải, làm chậm quá trình chuyển đổi sang phương tiện sạch và bền vững hơn, gây hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Do đó, Người dân cần tiếp cận thông tin từ các nguồn đáng tin cậy, tránh hiểu lầm và lan truyền thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách của Nhà nước./.