Thứ Ba, 4 tháng 6, 2024

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VỚI TỔ QUỐC

 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VỚI TỔ QUỐC

Vừa qua trên trang “Radiodlsn”, có bài “Nói với Người CS: Đặc tính đa dạng của Cộng đồng VN Hải Ngoại” của Hoàn Ân và Tiến Văn. Trong đó đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài; kích động chống phá, gây chia rẽ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc. Xuất phát từ tư tưởng thù địch lòng hận thù mà xuyên tạc bản chất, ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về đại đoàn kết toàn dân tộc, xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, luôn là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ nhất, với truyền thống yêu nước, hướng về Tổ quốc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn là một nguồn lực quan trọng, có nhiều đóng góp cho tiến trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta trong suốt chiều dài lịch sử. Hiện nay, với khoảng 6 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 80% ở các nước phát triển, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, khẳng định được vai trò, vị thế, uy tín, không những đóng góp tích cực vào phát triển của nước sở tại mà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ hai, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc

Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước luôn được bổ sung và hoàn thiện sát thực tiễn phát triển của đất nước, khu vực và quốc tế. Một trong những dấu mốc quan trọng đó là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; sau đó là các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Để thực hiện thắng lợi khát vọng và tầm nhìn phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, ngày 12/8/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Kết luận 12). Kết luận 12 là sự kế thừa, tiếp nối của Nghị quyết 36 (2004) và Chỉ thị 45 (2015) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài với tinh thần chủ đạo là hòa hợp dân tộc, chăm lo cho kiều bào và huy động nguồn lực kiều bào cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Thứ ba, những thành tựu to lớn của đất nước sau giai đoạn đổi mới cùng với vị thế ngày càng tăng của đất nước ở khu vực và trên thế giới đã khích lệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tự hào, tự tôn dân tộc, hướng về với cội nguồn, đóng góp cho quê hương. Đóng góp vào thành tựu chung của đất nước có công sức, trí tuệ của nhiều doanh nhân, trí thức người Việt Nam có trình độ cao ở nước ngoài, luôn tích cực tham gia hiến kế cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề quan trọng như nhân lực chất lượng cao, tài chính, thương mại, đầu tư, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phòng chống dịch bệnh, các mô hình phát triển kinh tế… Hiện đã có 385 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD và có vốn góp vào hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế – xã hội. Lượng kiều hối chuyển về nước ta trong những năm qua ngày càng tăng mạnh, không chỉ giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ mà còn phục vụ chính sách thu hút nguồn ngoại tệ cho Việt Nam, bổ sung dự trữ ngoại hối. Cùng với đó, nguồn lực từ kiều hối góp phần giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, theo số liệu báo cáo của các đơn vị làm dịch vụ chuyển tiền kiều hối, năm 2023, lượng kiều hối chuyển về nước ta đạt 16 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2022.

Thứ tư, thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cùng với vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, vai trò, vị thế, uy tín của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Đại bộ phận người dân đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dần dần tạo chỗ đứng vững chắc và có tiềm lực đáng kể về tri thức, trình độ khoa học, kỹ thuật. Không chỉ đóng góp bằng những nguồn lực đầu tư và chất xám, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực bảo tồn, lan tỏa và trao truyền văn hóa Việt. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tiếng Việt là phương tiện lưu giữ, lan tỏa, trao truyền văn hóa, giúp đồng bào ta ở nước ngoài bảo tồn được bản sắc văn hóa riêng, là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới, lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tin tưởng, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là minh chứng thực tiễn góp phần xóa bỏ những mối nghi hoặc, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch.

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc Phiên đối thoại về Báo cáo Quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc

 

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc Phiên đối thoại về Báo cáo Quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc

Một trong những âm mưu thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động là dưới chiêu bài bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, để lôi kéo, kích động quần chúng đòi tự do, dân chủ, nhân quyền theo tiêu chí phương Tây, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực hiện mưu đồ thâm hiểm đó, ngày 11/5/2024, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Hơn 300 khuyến nghị cho Việt Nam tại Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc”, nội dung xuyên tạc Phiên đối thoại về Báo cáo Quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; phủ nhận giá trị tự do, dân chủ ở Việt Nam; vu cáo chính quyền “vi phạm” nhân quyền trên nhiều lĩnh vực; “khuyến nghị” Việt Nam “cần tu chỉnh” Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về “độc quyền” lãnh đạo của Đảng. Đây thực chất là những luận điệu xuyên tạc sai trái cần lên án và bác bỏ, bởi vì:

1. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký kết Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới vào năm 1948 và là thành viên sáng lập của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc vào năm 2006. Trong cuộc bầu cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kì 2023-2025, Việt Nam được các thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của ASEAN; đồng thời cũng là ứng cử viên châu Á duy nhất của Cộng đồng Pháp ngữ, thể hiện sự tin tưởng và kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với vai trò và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người. Việt Nam tham gia và thực hiện nghiêm túc các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Đặc biệt là việc tham gia Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) lần thứ IV, diễn ra đúng ngày kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2024), chính tại Giơ-ne-vơ là nơi chứng kiến quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Chính vì vậy, thông điệp đầu tiên của Việt Nam là, khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết đối với với nỗ lực phát triển, thúc đẩy quyền con người. Thông điệp lớn thứ hai Việt Nam chia sẻ là, trong lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, không có một mô hình đúng duy nhất. Mỗi quốc gia tùy theo hoàn cảnh, điều kiện, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mình sẽ có thể lựa chọn con đường riêng. Chúng ta khẳng định tính đúng đắn của con đường Việt Nam đã lựa chọn và chúng ta sẽ kiên định đi trên con đường đó. Thông điệp lớn thứ ba là, với chủ trương nhất quán của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, Việt Nam đã rất nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị UPR mà chúng ta đã chấp thuận của chu kỳ trước và đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt, trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người và bảo đảm các quyền con người trên thực tế, mang lại những kết quả rất thiết thực cho người dân. Thông điệp thứ tư là mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức trong đại dịch COVID-19 nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia, đồng hành, đồng lòng của người dân, chúng ta đã vượt qua được khó khăn đó, đã bảo vệ được sức khỏe, cuộc sống của người dân, phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp, không có sự độc tôn chính trị. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có một điều quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ và đồng thuận của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng “đơn phương” quy định. Thực tiễn đã chứng minh, không phải ngay từ khi mới thành lập mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã có được sự thừa nhận của toàn dân. Phải bằng đường lối cách mạng đúng đắn, sự tận tụy, trung thành, hy sinh anh dũng của các thế hệ đảng viên cộng sản, Đảng Cộng sản Việt Nam mới được dân tin, dân yêu, trao cho trọng trách cao cả lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Việc điều 4 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014 quy định về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, không phải là sự áp đặt mà là ý nguyện của toàn dân. Vì vậy cần phải vạch rõ, núp dưới chiêu bài dân chủ, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị phê phán sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực ra là muốn tạo dựng lực lượng đối lập, hợp pháp hóa vai trò của tổ chức chính trị phản động để tiến tới xóa bỏ, thủ tiêu quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

3. Quyền dân chủ, quyền làm chủ của người dân trong mọi hoạt động của đời sống xã hội được bảo đảm và thực thi trong thực tế. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam bằng cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra là cơ quan quyền lực cao nhất. Quốc hội bầu ra chính phủ để điều hành mọi công việc của đất nước. Nhân dân có quyền tham gia vào đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng. Đảng ta tự đặt mình dưới sự giám sát của nhân dân, cơ quan đại diện của nhân dân và sự giám sát của công luận. Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đều xác định sự giám sát của nhân dân, của công luận đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Trong khi phấn đấu để nhân dân thực sự có quyền làm chủ, chúng ta không chấp nhận cái gọi là “dân chủ đa nguyên”, dân chủ với các thế lực thù địch chống lại nhân dân. Không thể có tình trạng các cá nhân và tổ chức chống đối, phản động có hành vi chống Đảng, Nhà nước, vi phạm lợi ich quốc gia, dân tộc lại đòi hỏi được hưởng quyền dân chủ như mọi người dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, dân chủ muốn được thực thi nhất thiết phải có pháp luật bảo vệ, bảo đảm. Pháp luật chính là công cụ quản lý xã hội và thực thi quyền dân chủ của người dân. Pháp luật không cho phép bất cứ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng quyền dân chủ để làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc, vi phạm luật pháp và quyền dân chủ của người khác. Trên thế giới không có quốc gia nào, kể cả những nước tự cho mình là có tự do dân chủ nhất lại dung túng cho những hành vi vi phạm pháp luật, chống lại lợi ích quốc gia, dân tộc và chống lại nhà nước.

Như vậy chúng ta có thể thấy, mưu đồ thâm hiểm của các thế lực thù địch là từng bước tách Đảng khỏi tầng lớp nhân dân, tạo sự đối lập giữa Đảng với dân, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội. Tạo dựng lực lượng chống đối, hình thành các tổ chức chính trị đối lập, kích động chia rẽ, ly khai, với “yêu sách” đòi quyền con người, quyền tự do, dân chủ vô chính phủ, chống lại nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện chế độ đa đảng và các tổ chức chính trị đối lập. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về Báo cáo Quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác./.

CẢNH GIÁC VỚI “BẪY TRUYỀN THÔNG” CỦA RFA

 

CẢNH GIÁC VỚI “BẪY TRUYỀN THÔNG” CỦA RFA

Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) là mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của các thế lực thù địch. Mới đây, trên trang Facebook: Đài Á Châu tự do (RFA) đã đăng bài viết với tiêu đề: “Vận dụng tư tưởng Lênin, hay nhìn đâu cũng thấy thù địch có còn phù hợp. Nội dung của bài viết nhằm xuyên tạc bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1. RFA cho rằng “vận dụng tư tưởng Mác – Lênin trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù định của Việt nam hiện nay không còn phù hợp.

Đây là nhận định phản động, phản khoa học, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

“Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.

Lịch sử đã chứng minh: từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 94 năm. Trong suốt quá trình ấy, Đảng luôn gắn bó với dân tộc, phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Ngày nay, đất nước ta đã vươn lên tầm cao mới, sánh vai với bạn bè quốc tế chính là nhờ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. Nhờ có chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam soi rọi đường lối cách mạng Việt Nam mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nước ta phát triển phát triển không ngừng, đó là lý do mà Đảng ta luôn kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do đó, việc vận dụng tư tưởng Mác – Lênin trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù định hiện nay là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với xã hội.

2. RFA trích dẫn ý kiến của Nguyễn Văn Đài (kẻ bán nước cầu vinh) “Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xây dựng lên những kẻ thù, những thế lực thù địch để hù dọa người dân…”

Đây là nhận định xuyên tạc, vu khống quan điểm, đường lối đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là nền tảng, kim chỉ nam để lãnh đạo công tác đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đó là đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc; phát huy nội lực, khai thác và tranh thủ ngoại lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kế thừa từ truyền thống lịch sử của ông cha ta cũng như tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt thù”, công tác đối ngoại, ngoại giao của Đảng ta đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Về đối ngoại Đảng, đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính.

Về ngoại giao Nhà nước, Việt Nam đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 7 nước đối tác chiến lược toàn diện, 11 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực, chủ động và đóng góp đầy trách nhiệm với tất cả các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam được đánh giá cao trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

 Về đối ngoại nhân dân, các đoàn thể, tổ chức nhân dân của ta có quan hệ hợp tác, hữu nghị với hơn 1.200 tổ chức, đối tác nước ngoài; hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tươi đẹp, thân thiện, hiếu khách với nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc, luôn được lan tỏa tới bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam.

Những kết quả trên đã chứng minh, nhận định của Nguyễn Văn Đài là phản động, cực đoan, phản ánh sai sự thật về đường lối đối ngoại của Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Như vậy, với thủ đoạn là thông tin một chiều, đăng bài, phỏng vấn những kẻ phản động trong và ngoài nước, RFA đã bóp méo, thổi phồng, xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy chúng ta cần tiếp tục đấu tranh vạch trần thái độ, mưu đồ, thủ đoạn của RFA và phải tỉnh táo khi tiếp xúc với thông tin được đăng tải để không bị sa vào “bẫy truyền thông” mà RFA giăng ra./.

Không thể xuyên tạc, phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam

 

Không thể xuyên tạc, phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam

Ngày 22/4/2024, như thường lệ, Mỹ tiếp tục lặp lại “điệp khúc nhân quyền” về Việt Nam trong một báo cáo dài 59 trang, được chia thành 7 phần, đánh giá tình hình nhân quyền năm 2023. Nhân sự kiện này, đài VOA đã tán phát bài viết “Ngoại giao Mỹ: Việt Nam đàn áp nhân quyền xuyên quốc gia” trên trang mạng “Voatiengviet”. Núp bóng đằng sau bản báo cáo với những lập luận theo kiểu “bình mới, rượu cũ”, VOA đã đưa ra những nhận xét, đánh giá sai lệch, bịa đặt, xuyên tạc về việc thực hiện quyền con người tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế chúng ta thấy:

1. Đó vẫn là điệp khúc đánh giá sai lệch về nhân quyền ở Việt Nam

Mở đầu bài viết, đài VOA đã viện dẫn bản báo cáo nhân quyền 2023 do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố ngày 22 tháng 4 năm 2024. Trong bản báo cáo mới được đưa ra, một lần nữa Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại thể hiện cái nhìn phiến diện, sai lệch khi cho rằng: “Không có thay đổi đáng kể nào về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong năm qua”. Khi so sánh với báo cáo năm 2022, có thể thấy điểm khác đáng kể nhất với báo cáo năm 2023 là những cái tên, những con số, những vụ việc được lấy ra làm “minh chứng” cho luận điểm cũ rích, rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền cho phù hợp với thời cuộc. Họ nhắc đến những cái tên như Đường Anh Thái, Lê Anh Hùng và khoác lên mình những người này danh nghĩa “nhà hoạt động chính trị”, “nhà bảo vệ nhân quyền” để từ đó quy kết việc bắt, xử lý là tuỳ tiện, xét xử không công bằng, là “đàn áp xuyên quốc gia”. Đây rõ ràng là một sự đánh giá sai lệch về bản chất, thể hiện rõ sự định kiến, thiên lệch khi vẽ lên một bức tranh xám xịt, tràn ngập những gam màu tiêu cực. Thực tế, đây đều là những đối tượng chống đối, lợi dụng vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá đất nước, xâm phạm đến an ninh quốc gia và trật tự xã hội của Việt Nam. Những đối tượng nêu trên được các cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Đây chỉ là một trong vô số các điệp khúc mà các báo cáo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam “xào xáo” lại sau mỗi năm.

Để đánh giá tình hình nhân quyền tại Việt Nam một cách khách quan, trung thực, đúng đắn cần phải dựa trên các thông tin và dữ liệu có nguồn gốc đáng tin cậy. Ngoài ra, để đánh giá khách quan, cần phải đưa ra những tiêu chí rõ ràng, minh bạch và được công nhận chính thức, những thông tin trong báo cáo cần được thẩm định và đưa ra đánh giá trước khi công bố. Do đó, nghiên cứu Báo cáo nhân quyền thường niên 2023 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy, những thông tin trong Báo cáo đã bị ảnh hưởng bởi quan điểm, định kiến cá nhân, từ đó đưa ra một số nhận định không khách quan dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế ở Việt Nam. Thiết nghĩ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cần có cách nhìn đầy đủ, khách quan hơn về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, tránh những định kiến, nhất là trong xu thế Việt Nam – Hoa Kỳ đang tăng cường hợp tác toàn diện, vì lợi ích nhân dân hai nước.

2. Không thể phủ nhận những bước tiến về quyền con người của Việt Nam

Sự thật có đúng như báo cáo đánh giá không? Phải chăng Việt Nam “không có thay đổi đáng kể nào về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong những năm qua?” Câu trả lời là không. Sự thật không như nhận định của họ.

 Có thể khẳng định, báo cáo nhân quyền mới nhất của Mỹ đang trở nên lạc lõng, xa rời thực tế. Bởi những nỗ lực không thể phủ nhận trong bước tiến về quyền con người của Việt Nam đã được cả cộng đồng quốc tế ghi nhận. Trong Báo cáo Quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, do Bộ Ngoại giao công bố mới đây, nhiều con số “biết nói” đầy sức thuyết phục đã phản ánh đầy đủ bức tranh tươi sắc trong công tác bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Từ năm 2019 đến hết tháng 11/2023, Quốc hội Việt Nam đã thông qua 44 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Cũng từ năm 2009 đến nay, GDP tính trên đầu người ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5% mỗi năm. Mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn với y tế cơ sở; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 92,81 % vào năm 2023. Tính đến tháng 9/2023, Việt Nam có 78 triệu người sử dụng Internet, tăng 21% so với số thuê bao năm 2019. Hiện, có khoảng 72.000 hội hoạt động ở Việt Nam thường xuyên, tích cực tham gia đóng góp vào xử lý các vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng của đất nước. Đây là minh chứng cho thấy, các phương tiện truyền thông, báo chí và Internet đã phát triển mạnh mẽ và trở thành diễn đàn ngôn luận của người dân, các tổ chức xã hội và là công cụ giám sát thực thi chính sách, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nhiều con số đầy thuyết phục khác về sức khỏe người dân được cải thiện, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập; tuổi thọ trung bình tăng và cao hơn trung bình thế giới. Báo cáo Hạnh phúc Thế giới của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2024, Việt Nam đứng thứ 54 trên thế giới, tăng 11 bậc so với năm 2023. Đây chính là cơ sở vững chắc giúp Việt Nam trúng cử vào các cơ quan, định chế về đảm bảo quyền con người của Liên hợp quốc, trong đó có vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Nhìn vào đây, chúng ta có thể thấy được tình hình nhân quyền tại Việt Nam không hề xấu như những gì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đánh giá và lẽ ra, những thông số tích cực đó cần được đưa vào báo cáo nhân quyền.

Có thể khẳng định rằng, những nhận định về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong báo cáo này là không khách quan, không đúng thực tế, chỉ là “điệp khúc” xuyên tạc, không đáng tin cậy, cần kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

Tự do báo chí ở Việt Nam được thể hiện nhất quán trong cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng, được hiến định trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật, trở thành nhân tố quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc sự thật này. Vừa qua, trên Facebook: Đài Á Châu tự do, RFA có bài viết: “Báo cáo 2024 của RSF: Việt Nam trong nhóm bảy nước “đội sổ” về tự do báo chí”, xếp Việt Nam đứng thứ 174/180 quốc gia về tự do báo chí năm 2024. Vì, ở Việt Nam báo chí bị đàn áp và các nhà báo tự do thường xuyên bị cầm tù. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn về tự do báo chí ở Việt Nam.

1. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Khoản 1 Điều 4 Luật Báo chí của Việt Nam khẳng định: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân. Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn: thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Tất cả các hoạt động báo chí của cá nhân và tổ chức đi ngược với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trên đây là vi phạm Luật Báo chí và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, ở Việt nam không đàn áp báo chí, mà báo chí hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

2. Báo chí ở Việt Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện cả nước có trên 1.000 cơ quan báo in và báo điện tử, trên 90 kênh phát thanh và khoảng 200 kênh truyền hình cùng với sự tham gia của hơn 18.000 nhà báo được cấp thẻ đang tác nghiệp trên tất cả các loại hình báo chí. Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định: hoạt động báo chí đã và đang góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; là vũ khí sắc bén đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; góp phần làm sáng tỏ và bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là phương tiện, công cụ đắc lực giúp Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; là lực lượng quan trọng tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, định hướng đúng đắn dư luận xã hội; phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Báo chí là diễn đàn để nhân dân trao đổi, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng chính đáng của mình, góp phần tham gia vào giải quyết các vấn đề của đất nước. Báo chí nói chung, các phóng viên, nhà báo tại Việt Nam nói riêng, luôn được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động; được luật pháp bảo vệ. Việc một số blogger của RFA đang bị giam cầm, bị xử lý bằng pháp luật là do vi phạm Điều 117, Bộ luật Hình sự quy định về tội: “tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm” nhằm chống, phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 11/10/2022, với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Báo cáo Hạnh phúc Thế giới của Liên Hợp Quốc công bố ngày 20/3/2024, Việt Nam đứng thứ 54 trên thế giới, tăng 11 bậc so với năm 2023. Như vậy, người dân Việt Nam đang rất hạnh phúc. Có được điều này, một phần là do tự do báo chí và sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam. Điều này, được cộng đồng quốc tế công nhận nên các thế lực thù địch không thể xuyên tạc, phủ nhận sự thật.

Việc Tổ chức phóng viên không biên giới tự cho phép xếp hạng tự do báo chí của Việt Nam theo những tiêu chí của họ mà không thực sự hiểu rõ về tự do báo chí của Việt Nam khiến những đánh giá, nhận định của tổ chức này không đáng tin cậy. Đây là cách làm chủ quan, áp đặt, thiếu thiện chí, xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, vu khống, bôi đen thực tế tự do báo chí và thực trạng tự do, nhân quyền ở Việt Nam, cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ./.

Luận điệu xuyên tạc trắng trợn của RST

 

Luận điệu xuyên tạc trắng trợn của RST

      - Cách đây ít giờ đồng hồ, trang facebook VOA Tiếng Việt đăng tin: “Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) có trụ sở ở Paris (Cộng hòa Pháp), đã xếp Việt Nam thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí do “cầm tù nhà báo có hệ thống”, khiến nước này nằm trong nhóm nước có nền báo chí “tồi tệ” nhất thế giới”! Đây là luận điệu xuyên tạc trắng trợn của RSF về tình hình bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam là quyền tự do có giới hạn. Việc giới hạn quyền tự do đó được quy định theo “nguyên tắc gây hại”, “nguyên tắc xúc phạm”, hoặc xung đột với các quyền khác. Những quy định hạn chế quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong luật pháp Việt Nam đối với một số trường hợp là hoàn toàn tương thích với các văn kiện quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Và, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25, Hiến pháp (năm 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tại Chương II, Luật Báo chí (năm 2016) cũng quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, Điều 13 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”; đồng thời, cũng quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”.

Không chỉ bảo đảm về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến cuối năm 2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000. Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội được mở rộng trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và trong thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, vô chính phủ, mà là vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị - xã hội của dân, do dân, vì dân.

Tuy nhiên, cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân đều bị nghiêm cấm và có chế tài nghiêm khắc. Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp (năm 2013) xác định rõ: quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Việc RSF nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “cầm tù nhà báo có hệ thống”. Đây là sự vu khống trắng trợn của RSF. Bởi, sự thật là: các đối tượng bị bắt giữ, phạt tù đều có hành vi lợi dụng các quyền “tự do”, “dân chủ” để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Vì thế, cái gọi là xếp hạng tự do báo chí của RSF không có giá trị và chẳng lừa bịp được ai./.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc Quy định 142 của Bộ Chính trị

 

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc Quy định 142 của Bộ Chính trị

 Ngay khi Bộ Chính trị ban hành Quy định số 142-QĐ/TW, ngày 23/4/2024 quy định thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ (Quy định số 142), các thế lực thù địch, phản động, chống đối đã phát tán nhiều tài liệu để xuyên tạc, cho rằng Quy định trên là “không hợp lý”.

Cần khẳng định: xuất phát từ thực tiễn, Quy định số 142 về thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ ra đời trong bối cảnh nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao phải nhận kỷ luật Đảng vì chịu trách nhiệm khi để cấp dưới của mình vi phạm khuyết điểm, làm sai, làm trái pháp luật, tham nhũng,... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và của cá nhân, làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 142, với thời gian thực hiện thí điểm này là 05 năm kể từ khi ban hành được xem là một hướng mới trong công tác tổ chức cán bộ của Đảng, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu và cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị trong việc chủ động lựa chọn cán bộ cấp phó để giúp việc cho mình, vừa xây dựng tập thể cán bộ lãnh đạo có đủ năng lực, phẩm chất, đoàn kết, cùng hành động vì lợi ích chung.

Quy định số 142 đã cụ thể phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm: giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của đơn vị mình; bầu bổ sung ủy viên Ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý. Người đứng đầu được quyền giới thiệu 01 nhân sự trong quy hoạch tại chỗ, hoặc 01 nhân sự từ nguồn ở nơi khác cho 01 chức danh để cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét đưa vào danh sách, tiến hành quy trình công tác cán bộ để hoàn thiện ban lãnh đạo của cơ quan, đơn vị mà mình được giao phụ trách. Có thể thấy, Quy định số 142 đã tăng quyền cho người đứng đầu trong việc lựa chọn nhân sự cấp phó trực tiếp của mình. Đồng thời, cũng quy trách nhiệm đích danh người giới thiệu. Cụ thể, tại Điều 6, xác định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, Quy định này nhấn mạnh: người đứng đầu bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của nhân sự do mình giới thiệu; thực hiện nghiêm các quy định về công tác cán bộ, quy định về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu trong các trường hợp sau: Giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm, khách quan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác. Miễn nhiệm cán bộ không bảo đảm căn cứ, thủ tục theo quy định. Việc xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu trong trường hợp vi phạm quy định này được thực hiện theo quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và các quy định có liên quan.

Đây là một bước đột phá của Đảng khi đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc lựa chọn nhân sự cấp dưới của mình, chấm dứt tình trạng tồn tại lâu nay là không cá nhân nào phải chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra sai sót trong việc giới thiệu nhân sự. Quy định mới tạo ra sự minh bạch, công tâm hơn trong công tác tổ chức cán bộ; đồng thời, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Vì vậy, các tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc  để Quy định này sớm đi vào thực tiễn cuộc sống./.

 

Bác bỏ luận điệu quy kết, chụp mũ nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Bác bỏ luận điệu quy kết, chụp mũ nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh

  - Thực hiện trò “hạ bệ” quen thuộc, vào dịp nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác 19/5/2024, các thế lực thù địch hồ đồ quy kết “Hồ Chí Minh nhấn mạnh đảng cầm quyền là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn lạm dụng, lợi dụng quyền lực, tham nhũng của cán bộ, đảng viên trong cơ quan Đảng, Nhà nước hiện nay”. Đây là luận điệu quy kết, chụp mũ hết sức thô thiển nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, làm mất phương hướng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay. Chúng lập luận hết sức phi lý rằng, “Nếu chỉ nói đảng lãnh đạo cách mạng sẽ không dẫn đến tình trạng lạm quyền, lợi dụng quyền lực của cán bộ, đảng viên”; rằng “đảng cầm quyền có nghĩa là đảng nắm toàn bộ quyền lực; cán bộ, đảng viên có quyền quyết định hết thảy”(!!!).

Như đã biết, hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực của một số cán bộ, đảng viên dẫn đến thoái hóa, biến chất, vướng vào tham nhũng, tiêu cực là do họ sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham lam, vụ lợi, lợi ích nhóm, cục bộ địa phương, v.v. Và, cần khẳng định rõ: tuyệt nhiên, những hiện tượng đó không phải là toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà chỉ ở một bộ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trên thực tế, đại đa số cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn đạo đức cách mạng trong sáng, cống hiến hết mình vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và Nhân dân. Ngay sau khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo những nguy cơ suy thoái của một đảng cầm quyền, trực tiếp là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Người chỉ ra ba nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, quan liêu, xa rời thực tiễn, xa rời nhân dân và chủ nghĩa cá nhân. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh gốc, nó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, thói hư tật xấu của cán bộ đảng viên, nên Người đặc biệt quan tâm đến việc phòng, chống các nguy cơ, nhất là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên của Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[1]. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ dự báo, mà còn luôn giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vững đạo đức cách mạng, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, lạm dụng, lợi dụng quyền lực khi được Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng giao phó nhiệm vụ cách mạng, để cán bộ, đảng viên  thực sự “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”, chứ không phải như các thế lực thù địch quy kết rằng: “những hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là do Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò cầm quyền của Đảng”! Luận điệu này cần phải lên án, đấu tranh bác bỏ./.

Không dao động, hoài nghi trước những thông tin mạng xã hội

Không dao động, hoài nghi trước những thông tin mạng xã hội

- Những ngày gần đây, trên các trang mạng xã hội facebook, như: Việt Tân, Chân Trời Mới Media, Tiếng Dân New,... đã đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin, bài viết liên quan đến công tác nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội. Trong đó, họ đưa ra những dự đoán, bình luận, suy diễn, xuyên tạc,... về công tác này, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ, gây hoang mang, tạo sự hoài nghi, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trước hết, chúng ta cần thống nhất nhận thức rằng: việc thời gian qua, một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác là do bản thân những cán bộ đó đã vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và chịu trách nhiệm người đứng đầu theo các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước và đã được các cơ quan cao nhất của Đảng, Nhà nước là Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội đồng thuận, nhất trí cho nghỉ công tác. Điều này, thể hiện những cán bộ có vi phạm đã nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân đối với Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Đồng thời, khẳng định công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đang được triển khai quyết liệt, hiệu quả ở tất cả các cấp, từ Trung ương đến địa phương, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, nói đi đôi với làm,... để thực sự làm trong sạch bộ máy, nâng cao sức mạnh, khả năng lãnh đạo, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra những nguy cơ tha hóa, vi phạm của cán bộ, đảng viên khi Đảng cầm quyền nên Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” để chỉ ra và phê phán những sai lầm, khuyết điểm dẫn đến có hại cho sự nghiệp cách mạng, nhất là tinh thần tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Đến nay, những lời chỉ dạy của Người vẫn còn vẹn nguyên giá trị và được Đảng ta quán triệt, vận dụng vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là hoàn toàn đúng đắn, cần tiếp tục làm tốt hơn nữa, để không ngừng củng cố vị thế, uy tín của Đảng.

Thứ ba, thực chất những thông tin các trang mạng xã hội đưa ra về công tác nhân sự đều là do họ tự suy đoán, phán đoán nên đúng thì ít mà sai thì nhiều song đã gây nhiễu loạn trong xã hội. Nguy hiểm hơn, họ còn bình luận, suy diễn, xuyên tạc cho rằng đây là hậu quả của sự đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái, kích động chia rẽ nội bộ, tạo sự hoài nghi, gây hoang mang dư luận xã hội và nhân dân. Vậy nên chúng ta cần luôn tỉnh táo, là những người thông thái để nhận diện, không bị mắc mưu của chúng. Chỉ tiếp nhận thông tin từ những nguồn chính thống, tuy có chậm hơn so với mạng xã hội nhưng đây là những thông tin chính thức đã được kiểm chứng, tin cậy. Đồng thời, tin tưởng vào kết quả, thành tựu của công cuộc phòng, chống tham những, tiêu cực, vào sự lãnh đạo của Đảng, không dao động, hoài nghi trước những thông tin trái chiều từ mạng xã hội./.   

Phát biểu của bà Myriam Ferran – minh chứng sinh động bác bỏ mọi xuyên tạc về đường lối ngoại giao của Việt Nam

 

Phát biểu của bà Myriam Ferran – minh chứng sinh động bác bỏ mọi xuyên tạc về đường lối ngoại giao của Việt Nam

     – Nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam; nhất là, trường phái ngoại “cây tre Việt Nam” đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát qua thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhưng mới đây, ngày 28/5 bà Myriam Ferran, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quan hệ Đối tác Quốc tế của Ủy ban châu Âu thăm, làm việc tại Việt Nam, là một minh chứng sống động về thành tựu trong công tác đối ngoại của nước ta. Tự nó bác bỏ mọi sự xuyên tạc.

Trong cuộc trao đổi với báo chí nhân chuyến thăm Việt Nam (ngày 28/5/2024), bà Myriam Ferran, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quan hệ Đối tác Quốc tế của Ủy ban châu Âu, cho biết Việt Nam là một trong những đối tác ưu tiên hàng đầu trong Chiến lược Cửa ngõ Toàn cầu (Global Gateway) về đầu tư xanh và phát triển bền vững của Liên minh châu Âu (EU). Bà Myriam Ferran phát biểu: “Việt Nam là đối tác then chốt trong chiến lược Global Gateway tại khu vực và ASEAN”. Chiến lược Cửa ngõ Toàn cầu của EU thúc đẩy các khoản đầu tư nhằm xử lý các thách thức toàn cầu như ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, giao thông bền vững, thúc đẩy nguồn nhân lực trong các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, y tế, đảm bảo tính công bằng và mang lại lợi ích cho người dân. Bà Myriam Ferran cho biết thêm: “Năng lượng là lĩnh vực cốt lõi trong chuyến công tác của tôi, trong đó thúc đẩy thực hiện cơ chế Quan hệ đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) nhằm hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Chúng tôi nhấn mạnh sự đóng góp của viện trợ không hoàn lại đang là lựa chọn số một của cơ chế JETP. Cơ chế này đang huy động vốn rất lớn, 10,5 tỷ euro. Trong đó, EU và các nước thành viên đang thúc đẩy thực hiện thỏa thuận cấp vốn tổng 500 triệu euro với Việt Nam”. Đồng thời, Bà nhấn mạnh, EU luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng. Đặc biệt, về hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam là đối tác rất quan trọng với EU do có tốc độ phát triển hàng đầu thế giới, cùng với đó là nhu cầu phát triển năng lượng gia tăng, phát thải trên đầu người tăng nhanh. 

Những thực tiễn nói trên đã góp phần khẳng định giá trị của đường lối ngoại giao “cây tre Việt Nam” là không thể phủ nhận. Và, chính đường lối đúng đắn trong công tác đối ngoại đó góp phần nâng cao sức mạnh, tiềm lực, vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế; đồng thời, góp phần quan trọng vào xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển. Đó là những minh chứng rất sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về đường lối, chính sách đối ngoại theo trường phái “cây tre Việt Nam”./.