Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025

Cáo buộc vô căn cứ về “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” ở Việt Nam

 

Cáo buộc vô căn cứ về “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” ở Việt Nam

          Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí như Tổ chức Vận động cho Đức tin và Công lý tại Việt Nam (AFJV), Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) hay các phần tử cực đoan lưu vong đã liên tục đưa ra các cáo buộc vô căn cứ về việc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo; ngăn chặn tụ tập tôn giáo; xâm phạm tài sản tôn giáo; cưỡng ép từ bỏ tôn giáo; từ chối đơn đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân, v.v. Đây là những cáo buộc mang tính suy diễn, một chiều, bóp méo sự thật nhằm can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cần được đấu tranh, bác bỏ trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

1. Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với pháp luật quốc tế

Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 khẳng định quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng quy định rõ tại Điều 24: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 26 triệu tín đồ thuộc 16 tôn giáo và trên 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động. Các hoạt động tôn giáo diễn ra phong phú, đa dạng, từ lễ hội, nghi lễ tôn giáo đến các hoạt động từ thiện, nhân đạo, đều được tôn trọng và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật. Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam đã tham gia và thực hiện báo cáo định kỳ trước các cơ chế của Liên hợp quốc như: UPR, ICCPR,… và chủ động đối thoại với các tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, minh bạch.

2. Nhận diện và phản bác các luận điệu vu cáo về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam

Một là, luận điệu “Hình sự hóa hoạt động tôn giáo” là hoàn toàn sai lệch. Nhà nước Việt Nam chỉ xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật như: Kích động bạo lực, tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không bao giờ xử lý đơn thuần vì lý do tôn giáo. Trường hợp linh mục Đặng Hữu Nam mà AFJV đề cập không liên quan đến quyền tự do tôn giáo mà xuất phát từ việc ông này có các hoạt động lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc sự kiện Formosa, kích động biểu tình, gây rối trật tự. Hơn nữa, chính Giám mục Nguyễn Hữu Long - người có đầy đủ thẩm quyền trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã áp dụng các biện pháp quản lý đối với linh mục Nam hoàn toàn theo nội bộ giáo luật Công giáo, không phải là sự can thiệp của chính quyền.

Hai là, luận điệu “Ngăn chặn tụ tập tôn giáo” là sự bóp méo bản chất. Việt Nam tạo điều kiện cho các hoạt động tụ tập tôn giáo hợp pháp. Việc kiểm soát một số hoạt động tụ tập trái phép, không tuân thủ quy định là nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, điều mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều áp dụng. Không thể nhân danh tôn giáo để bao biện cho các hành vi lợi dụng tụ tập gây rối, phá hoại như những gì xảy ra tại Nghệ An giai đoạn sau sự cố môi trường biển miền Trung.

Ba là, luận điệu “Xâm phạm tài sản tổ chức tôn giáo” là cáo buộc vô căn cứ. Thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo hộ tài sản hợp pháp của các tổ chức tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới với sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp. Nếu có mâu thuẫn liên quan đến đất đai, tài sản, đều được giải quyết theo pháp luật chung, không có sự phân biệt đối xử tôn giáo.

Bốn là, luận điệu “Cưỡng ép từ bỏ tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Không có chính sách, văn bản nào của Nhà nước Việt Nam quy định hoặc khuyến khích việc cưỡng ép từ bỏ tôn giáo. Đây là thủ đoạn tuyên truyền nhằm hạ thấp hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Năm là, luận điệu “Từ chối đơn xin đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân” là vu cáo trắng trợn. Việc đăng ký tổ chức tôn giáo tại Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ, minh bạch nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tránh bị lợi dụng để hoạt động trái pháp luật. Những trường hợp không được cấp phép thường do không đáp ứng đủ điều kiện về pháp lý, nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc có dấu hiệu hoạt động trái pháp luật, chứ không phải vì lý do kỳ thị tôn giáo.

Tóm lại, AFJV được thành lập tại Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “bảo vệ công lý”, nhưng thực chất là công cụ chính trị nhằm xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF - tổ chức liên tục đưa Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) về tự do tôn giáo - cũng đã nhiều lần bị các chuyên gia quốc tế và ngay cả nội bộ Mỹ chỉ trích về sự thiên lệch, thiếu khách quan, sử dụng tiêu chí kép để gây sức ép chính trị. Những cáo buộc cho rằng Việt Nam “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” là thiếu căn cứ, bóp méo bản chất sự việc, phục vụ ý đồ chính trị của một số tổ chức, cá nhân cực đoan. Việt Nam kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái này, đồng thời khẳng định cam kết tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo hợp pháp, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước./.

Cái nhìn thiển cận của Vũ Đức Khanh

 

Cái nhìn thiển cận của Vũ Đức Khanh

            Trên trang Việt Tân, Vũ Đức Khanh đã đăng tải bài viết “Con đường Việt Nam trong thế kỷ XXI: Lựa chọn giữa Tự do hay Chuyên quyền”, với những luận điệu hết sức thiển cận và vô lý, mang tính chất xuyên tạc, phản động, chống phá Đảng, chống phá nền độc lập, tự do của dân tộc, đi ngược với những thành quả phát triển trong 80 năm qua ở nước ta.

1. Luận điệu cho rằng, Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập 02/9/1945 là giành độc lập dân tộc - nhưng chưa bao giờ có một cuộc cách mạng thực sự để giành lại quyền làm người và quyền làm công dân cho từng người dân. Đây là luận điệu hết sức sai trái, xuyên tạc. Chúng ta cần phải khẳng định, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, đất nước ta. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ gần 90 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập “Đưa người nô lệ thành người tự do”. Lần đầu tiên tên nước Việt Nam có trên bản đồ thế giới, với tư cách và vị thế của một quốc gia, dân tộc tự do độc lập, có chủ quyền mà trước đó, trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân ta đã tự “làm chủ vận mệnh” của mình; trở thành nguồn động viên to lớn để nhiều dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập. Trong lời thoái vị của vua Bảo Đại - Vị vua cuối cùng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đọc trước sự chứng kiến của hàng vạn người dân mít tinh trước cửa Ngọ Môn, kinh thành Huế ngày 30/8/1945, ông đã phát biểu rằng “thà được làm dân của nước tự do hơn làm vua của nước nô lệ”.

2. Luận điệu cho rằng, cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, dù mở đầu của ngôn ngữ tự do, cuối cùng lại kết thúc bằng sự thống trị của một đảng duy nhất. Đây là lời lẽ hết sức phản động, kính động, xuyên tạc. Bởi lẽ, một đảng đã chứng minh giá trị trong lịch sử, đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và ngày nay càng khẳng định vai trò lãnh đạo đất nước đến vị thế cao trên trường quốc tế, vững bước để tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tám mươi năm qua, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết đấu tranh, lao động cần cù, sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách; đất nước giành được nhiều thắng lợi vẻ vang và không ngừng phát triển. Đến nay, nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; kinh tế tăng trưởng khá; chính trị, xã hội ổn định; văn hóa, xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao. Theo Nghị quyết số 158/2024/QH15 của Quốc hội: tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5 - 7,0% và phấn đấu khoảng 7,0- 7,5%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.900 USD; Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới khoảng 80,5 - 81,5%, v.v. Nhiều học giả người nước ngoài có dịp đến Việt Nam và nghiên cứu về Việt Nam đã cho rằng Việt Nam rất thành công và đạt được nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến con người như chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ.

Như vậy, các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 02/9/1945 và thực tiễn phát triển của đất nước càng phơi bày sự vô lương tâm, thiếu hiểu biết, thiển cận của Vũ Đức Khanh và các thế lực thù địch. Thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân và đất nước ta ngày càng được phát triển là những minh chứng bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn phản động, xuyên tạc của chúng./.

Sự hiểu biết “mơ hồ”của Phạm Đình Trọng về chủ nghĩa xã hội

 

Sự hiểu biết “mơ hồ”của Phạm Đình Trọng về chủ nghĩa xã hội

           Trên trang “Baotiengdan”, Phạm Đình Trọng có bài viết “Cái đuôi của chính trị”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động về chủ nghĩa xã hội nói chung và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng. Phạm Đình Trọng cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới… Ở Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội là cuộc chiến tranh ý thức hệ đẫm máu…gây li tán sâu sắc cả dân tộc Việt Nam”. Đây là những luận điệu thể hiện rõ sự mơ hồ có chủ đích của Phạm Đình Trọng, bởi vì sự thật lịch sử không phải như vậy:

Một là, chủ nghĩa xã hội được hình thành, phát triển trên mảnh đất hiện thực khoa học và cách mạng. Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng và một phong trào chính trị nhằm xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người đều bình đẳng về kinh tế và chính trị; không còn áp bức, bóc lột, bất công. Với thiên tài bẩm sinh, trí tuệ uyên bác, đắm mình vào hoạt động thực tiễn của giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động C.Mác, Ph.Ănghen, V.I. Lênin đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học; từ lý luận trở thành hiện thực. Thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, trở thành lực lượng đối trọng với chủ nghĩa tư bản. Những thành tựu mà Liên Xô và các nước Đông Âu đạt được về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, quân sự; đặc biệt trong cuộc chiến tranh vệ quốc cứu nhân loại khỏi thảm hoạ diệt chủng của chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ hai là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX khi bước vào cải tổ, cách cách Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối dẫn đến sụp đổ. Song có thể khẳng định, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Ðông Âu trước đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, chứ không thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, không phải do sai lầm trong lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin mà chỉ là “bước thụt lùi tạm thời”. Bởi sự nghiệp đổi mới, cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay như: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba… với khoảng 1,5 tỷ người đã nói lên sức sống và giá trị thời đại của nó tiếp tục được khẳng định trong tương lai là một chế độ xã hội ưu việt nhất trong lịch sử nhân loại.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn duy nhất đúng. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xác định mục tiêu cách mạng, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Đảng lãnh đạo cách mạng và được tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Nam thừa nhận. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã giành những thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhân dân được hưởng nền độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước, sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam càng được thử thách và khẳng định, đưa Việt Nam có “thế và lực” mới, đất nước “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Hiện nay, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, kinh tế tăng trưởng khá và trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo, là điểm sáng về giảm nghèo trên thế giới; thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới; có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; là một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới; quy mô kinh tế tăng gấp 100 lần so với năm 1986. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 100 USD lên gần 5000 USD, nằm trong nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Mỗi người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào quan điểm, đường lối phát triển đất nước luôn cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không nghe, không tin những thông tin sai trái, phản động đi ngược lại với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Đảng luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết

 

Đảng luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết

        Trên trang “Doithoaionline”, Phạm Đình Bá đăng tải bài viết với tiêu đề: “Nếu Đảng Cộng sản mở mắt ra, sẽ thấy nhiều thứ”. Y cho rằng: “Những khủng hoảng chồng chéo và đau khổ trong xã hội là do Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lợi ích của thiểu số trong Đảng lên trên phúc lợi của toàn dân”. Đây là một luận điệu không chỉ sai về bản chất, lệch về logic, mà còn gây bất ổn xã hội nếu không kịp thời đấu tranh, phản bác.

       1. Luận điệu của Phạm Đình Bá là phi lý và phản thực tế. Như chúng ta đã biết, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lợi ích của một nhóm thiểu số trong Đảng lên trên phúc lợi nhân dân, thì làm sao đất nước Việt Nam từ tro tàn chiến tranh, có thể vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, duy trì tăng trưởng GDP bền vững hàng năm, và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một “hình mẫu phát triển hậu xung đột” điển hình? Chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo công cuộc đổi mới, bắt đầu từ năm 1986. Đây là dấu mốc, là bước ngoặt vĩ đại mang lại sự chuyển mình toàn diện cho đất nước. Đảng ta đã chấp nhận đổi mới tư duy, thay đổi mô hình phát triển, dám “tự sửa mình” để dân tộc Việt Nam được ấm no, tự do, hạnh phúc. 

       Trong những năm qua, nếu Đảng vì thiểu số, sao lại quyết liệt phát động và duy trì công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, mà nhiều người gọi là “lò lửa đốt không có vùng cấm”? Bao nhiêu cán bộ cấp cao đã bị xử lý, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng, những tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, những người từng giữ trọng trách trong Đảng? Những con người đó có phải chính là “thiểu số trong Đảng” mà luận điệu kia định ám chỉ?

       2. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện lợi ích toàn dân, luôn tự soi, tự sửa để hoàn thiện, phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, Đảng Cộng sản không đại diện cho quyền lực của một giai cấp thiểu số, mà là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc. Tổ chức Đảng không tồn tại để ưu đãi nội bộ, mà để dẫn dắt toàn xã hội tiến bộ. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là “vì lợi ích của đất nước, của Nhân dân”. Mọi chính sách, pháp luật, kế hoạch phát triển quốc gia đều xoay quanh một trục trung tâm là Nhân dân, lấy dân làm gốc. Từ nghị quyết trung ương đến chính sách cụ thể, luôn lấy hạnh phúc của người dân là thước đo của thành công chính trị. Đây không phải là khẩu hiệu, mà là nguyên lý tổ chức quyền lực kiểu mới, quyền lực gắn liền trách nhiệm với nhân dân. Thực tiễn hiện nay, chúng ta không ai phủ nhận rằng đất nước còn nhiều khó khăn; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất; một số chính sách còn chậm thay đổi. Nhưng quy kết toàn bộ trách nhiệm cho “Đảng đặt quyền lợi thiểu số lên trên phúc lợi toàn dân” là sự đánh tráo khái niệm trắng trợn. Chính Đảng đã nhận diện thẳng thắn trong các văn kiện rằng: Có tình trạng “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, có biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhưng quan trọng là: Đảng không né tránh. Đảng chủ động nhận khuyết điểm, đề ra giải pháp, hành động cụ thể và mạnh mẽ hơn bất kỳ đảng cầm quyền nào ở các quốc gia khác trong việc làm trong sạch bộ máy.

       Những người như Nguyễn Đình Bá tung ra luận điệu trên thường không quan tâm đến nỗi đau của dân, mà lợi dụng khó khăn của dân để thổi bùng tâm lý chống đối, nhằm xuyên tạc bản chất của chế độ, kích động chia rẽ nội bộ, làm suy yếu niềm tin của nhân dân với Đảng. Chúng chỉ nhìn vào biểu hiện cá biệt của một vài phần tử suy thoái để phủ nhận vai trò toàn diện và thành tựu to lớn của một Đảng gần 100 năm gắn bó với dân tộc, từ trong chiến hào kháng chiến đến thời kỳ hội nhập và phát triển. Đó là hành vi thổi phồng thiếu sót để phá hoại chính trị chứ không phải hành động góp ý xây dựng như chúng vẫn ngụy trang.

       Niềm tin của nhân dân Việt Nam dành cho Đảng không phải là niềm tin mù quáng, mà là niềm tin có cơ sở từ thực tiễn lịch sử, lý luận chính trị và đạo lý dân tộc. Những ai thực sự vì Nhân dân, hãy cùng Đảng sửa sai, khắc phục khuyết điểm, thúc đẩy đổi mới. Còn những kẻ đội lốt “nhân danh Nhân dân” như Phạm Đình Bá để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, dù chúng có núp dưới vỏ bọc nào, rồi cũng sẽ bị lịch sử và nhân dân đào thải. Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn là lực lượng duy nhất hiện nay đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để lãnh đạo đất nước vững bước tiến lên cùng toàn quân và toàn dân bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam./.


Bản báo cáo thiếu khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

 

Bản báo cáo thiếu khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

         Ngày 12/8/2025, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo tình hình nhân quyền năm 2024 của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Giống như báo cáo thường niên các năm trước, tài liệu này tiếp tục đưa ra những nhận định tiêu cực, phản ánh không đúng về tự do ngôn luận, báo chí, internet và tôn giáo ở Việt Nam.Ngay sau khi công bố, bản báo cáo đã nhận nhiều ý kiến chỉ trích từ các chuyên gia về tính thiên lệch và động cơ chính trị đằng sau cách chọn lọc dữ kiện.

Lễ hoa đăng kĩnh mừng Phật đản tại chùa Pháp Hoa,
Thành phố Hồ Chí Minh thu hút đông đảo phật tử,
người dân tham dự (Ảnh: BTC)

Theo các chuyên gia, cách thức trình bày bản báo cáo năm nay từ Bộ Ngoại giao Mỹ có nhiều điểm bất hợp lý, như cấu trúc bị cắt xén, bỏ qua nhiều chủ đề vốn là trọng tâm trong đánh giá quyền con người như quyền của phụ nữ, người khuyết tật, chống tham nhũng hay quyền hội họp ôn hòa. Đồng thời, bản báo cáo cũng vấp phải sự chỉ trích từ một số tổ chức nhân quyền lẫn giới chuyên gia về tính thiên lệch và động cơ chính trị đằng sau cách sử dụng dữ liệu để đánh giá, vì vậy “bản báo cáo lẫn lộn giữa sự thật, đánh tráo và tô hồng”; “cách lựa chọn quốc gia mang màu sắc chính trị khiến công cụ giám sát truyền thống của Quốc hội Mỹ suy giảm độ tin cậy”, v.v.

Thí dụ trong việc chọn lọc nguồn thông tin để kiểm chứng, mặc dù đưa ra cáo buộc với một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhưng văn bản chỉ dùng cụm từ chung chung đó là “có báo cáo đáng tin cậy” mà thiếu dẫn chứng cụ thể hoặc phớt lờ những số liệu chính thống vốn là yêu cầu có tính bắt buộc. Bởi vậy bản báo cáo bị đặt dấu hỏi về tiêu chí, sự độc lập, và tính khách quan.

Bày tỏ quan điểm về vấn đề này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Báo cáo nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ, công bố ngày 12/8, chưa phản ánh được các thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người. Báo cáo tiếp tục đưa ra những nhận định không khách quan, dựa trên thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng về tình hình thực tế tại Việt Nam”.

Thực tiễn đã chứng minh, 80 năm qua, kể từ khi thành lập nước cho đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Cụ thể Hiến pháp 2013, tại Chương II quy định các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó Điều 14 khẳng định: “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Các điều từ 15 đến 26 quy định cụ thể quyền tự do ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng, tôn giáo, cư trú, đi lại, bình đẳng giới,... các nội dung này đều được luật hóa, như Luật Báo chí 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016; Luật An ninh mạng 2018, v.v.

Những thành tựu về quyền con người ở Việt Nam gắn liền với những cải cách thể chế, kinh tế-xã hội, và có chiều sâu: từ xóa đói giảm nghèo, mở rộng giáo dục, y tế đến bảo đảm an sinh cho nhóm yếu thế. Một trong những minh chứng đó là tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt mức cao và liên tục tăng: năm 2023 là 93,2%, năm 2024 là 94,1% và năm 2025 là 95,15% dân số được tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, rộng khắp. Về xóa nghèo, các báo cáo nghèo đa chiều cấp quốc gia cho thấy tỷ lệ nghèo tiếp tục xu hướng giảm: năm 2024 tỷ lệ nghèo đa chiều chung toàn quốc là 4,06%, giảm 1,65% so với năm 2023.

Ngân hàng Thế giới (WB) mô tả Việt Nam là câu chuyện thành công nổi bật về đổi mới, chuyển đổi và giảm nghèo, đồng thời chỉ ra rằng chính sách của Việt Nam đã hướng đến các nhóm dễ tổn thương, phù hợp tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Còn ở bình diện phát triển con người, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Thường trú của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam ghi nhận: “Việt Nam đã duy trì vị thế là một quốc gia có sự phát triển con người cao trong suốt những năm tháng khó khăn của đại dịch Covid-19. Phát triển con người tiếp tục là một trọng tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam, và chúng ta đã thấy những tiến bộ rất đáng kể trong vài thập kỷ qua”.

Theo báo cáo của UNDP năm 2023 chỉ số HDI của Việt Nam đạt 0,766, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Từ năm 1990-2023, chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng 53,5%, đây là một bước tiến ngoạn mục. Những con số này không chỉ phản ánh nỗ lực nội tại mà còn là minh chứng trong việc Việt Nam quan tâm, bảo vệ quyền cơ bản như quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe và quyền phát triển, đặc biệt với phụ nữ, trẻ em và người khuyết tật - những lĩnh vực mà báo cáo nhân quyền năm 2024 của Bộ Ngoại giao Mỹ đã bỏ qua, dẫn đến sự đánh giá thiếu toàn diện.

Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã hai lần được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 – 2016 và 2023 - 2025), điều này cho thấy sự tin cậy của cộng đồng quốc tế với Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền. Đáng chú ý tại chu kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) lần thứ tư, phiên đối thoại tháng 5/2024 và thông qua kết quả tháng 9/2024 ghi nhận Việt Nam chấp nhận 271/320 khuyến nghị - tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong bốn chu kỳ, phản ánh thái độ cầu thị và tinh thần cải cách thông qua cơ chế đa phương.

Quay trở lại với bản báo cáo gây tranh cãi của Bộ Ngoại giao Mỹ, báo cáo không đặt Việt Nam trong bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù, nhất là khi đánh giá các quyền vừa đòi hỏi mở rộng không gian tự do, vừa phải gắn với yêu cầu thượng tôn pháp luật và bảo vệ an ninh, trật tự. Liên quan đến hai nội dung nổi bật mà trong bản báo cáo đề cập tới đó là tự do internet và tự do tôn giáo ở Việt Nam, báo cáo đã đưa ra những đánh giá không phản ánh đúng tình hình thực tế. Như vấn đề tự do internet, Việt Nam lựa chọn con đường “mở có trách nhiệm”: theo đó mở rộng truy cập, kỹ năng số và dịch vụ số cùng với việc thiết lập rào chắn pháp lý trước tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên biên giới, xâm phạm trẻ em, kích động thù hằn, khủng bố mạng. Luật An ninh mạng và Nghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân 2023 là thí dụ điển hình về nỗ lực tìm điểm cân bằng giữa quyền riêng tư, tự do biểu đạt và an ninh cộng đồng. Tại Liên minh châu Âu hay các nền dân chủ phát triển cũng đang xử lý bài toán này bằng những bộ khung như GDPR (Luật bảo mật và quyền riêng tư dữ liệu mới của châu Âu), DSA (Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số), v.v. Báo cáo cũng bỏ qua những nỗ lực của Việt Nam trong việc chuyển đổi số, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số đến năm 2030.

Với những chính sách kịp thời, đúng đắn, Việt Nam trở thành điểm sáng trong khu vực về chính phủ số và hạ tầng. Việc người dân có thể chủ động đăng ký kinh doanh trực tuyến, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế dùng căn cước công dân, hay cổng dịch vụ công tích hợp… cho thấy internet ở Việt Nam không chỉ là “không gian biểu đạt ý kiến” (năm 2024 Việt Nam có hơn 72 triệu người sử dụng mạng xã hội, chiếm khoảng 73% dân số) mà còn là hạ tầng thực thi quyền cơ bản của công dân, mang lại điều kiện sống ngày càng dân chủ, văn minh hơn.

Trong lĩnh vực tôn giáo, năm 2024, diễn ra nhiều hoạt động tôn giáo sôi nổi như: trao Quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho Hội thánh Tin Lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam (tháng 4); Đại lễ Phật đản 2024 (tháng 5); ngày 13/6/2024 Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đoàn đại biểu các chức sắc, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo; Đại hội đồng Giáo phẩm Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền nam) lần thứ 11 (tháng 7); Đại hội đồng lần thứ IV Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Đại lễ kỷ niệm 100 năm ngày hoằng khai Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (tháng 11), v.v.

          Tính đến tháng 8/2025, cả nước có 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo; 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với trên 27,7 triệu tín đồ. Cùng với Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và các nghị định hướng dẫn tạo khung pháp lý vững chắc và thiết lập cơ chế minh bạch để thực thi quyền tự do tôn giáo, gắn với mục tiêu đoàn kết dân tộc và phát triển đất nước.

Việt Nam đã tham gia phần lớn các điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc, bao gồm: Công ước ICCPR về quyền dân sự, chính trị; ICESCR về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; CRC về quyền trẻ em; CERD về xóa bỏ phân biệt chủng tộc; CAT về chống tra tấn; CRPD về quyền của người khuyết tật… Từ đây thể hiện sự nhất quán của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn phổ quát của quốc tế và kiên trì mục tiêu phát triển bao trùm, toàn diện về quyền con người.

Cần nhấn mạnh rằng, năm 2023, Việt Nam và Mỹ nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện” vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Tại Tuyên bố chung tái khẳng định các nguyên tắc cơ bản đã được hai bên thống nhất khi xác lập quan hệ Đối tác toàn diện từ năm 2013, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Trên cơ sở đó, nhân quyền cần được xem là lĩnh vực tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Việt Nam luôn bày tỏ thiện chí đón các đoàn, các tổ chức quốc tế tới tìm hiểu thực tế tại Việt Nam, đồng thời sẵn sàng trao đổi thẳng thắn với Mỹ về những khác biệt trên tinh thần xây dựng, qua đó góp phần củng cố lòng tin, làm giàu thêm sự hiểu biết. Những đánh giá không chính xác thiếu khách quan về Việt Nam trong báo cáo tình hình nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ rất cần được điều chỉnh trong những năm tới vì lợi ích của người dân hai nước và vì tương lai phát triển bền vững của mỗi quốc gia./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2025

Lật tẩy trò “giải thưởng nhân quyền” của tổ chức phản động “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”

 

Lật tẩy trò “giải thưởng nhân quyền” của tổ chức phản động “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”

        - Vừa qua trên không gian mạng, các tổ chức phản động ra sức cổ súy cho việc trao cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” của tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” cho ba phạm nhân đang chấp hành án phạt tù là: Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận và Đặng Bá Phước. Đây là “trò” không mới của các thế lực thù địch, phản động núp dưới chiêu bài “nhân quyền” để cổ súy cho những kẻ vi phạm pháp luật nhằm tạo “ngọn cờ” chống đối trong nước.

Tre Việt xin nêu chân dung của những kẻ được “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” trao cho cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” năm 2024 để bạn đọc rõ bộ mặt thật cùng “trò hề” của các thế lực thù địch, phản động núp bóng “nhân quyền”. Đầu tiên là Bùi Văn Thuận ở Thanh Hóa. Đây là trường hợp bị Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 08 năm tù giam, 05 năm quản chế và bị tước quyền công dân, quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước thời hạn 05 năm kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về tội “Tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Bị xử lý mức phạt như vậy do Thuận là người tạo lập, quản trị và sử dụng tài khoản facebook “Thuan Van Bui (Cha già Dân tộc)” để đăng tải, chia sẻ, phát tán nhiều bài viết có nội dung xúc phạm uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và tại địa phương; xuyên tạc, bịa đặt, kích động người dân không tuân theo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, kích động chống phá, gây bất bình, phẫn nộ trong quần chúng Nhân dân. Tiếp theo là Đặng Đăng Phước  Đắk Lắk. Đặng Đăng Phước bị Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 08 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến tháng 8/2022, Phước đã viết, tải từ mạng Internet các bài viết có nội dung xấu độc vu khống, xúc phạm, bôi nhọ uy tín, danh dự Nhà nước; phỉ báng chính quyền Nhân dân và đăng tải các bài viết này lên trang facebook cá nhân “Đặng Phước”, đồng thời sử dụng Email cá nhân gửi các bài viết có nội dung nêu trên đến các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Phước còn trực tiếp phổ nhạc, đánh đàn và hát những bài hát có nội dung không đúng sự thật, phỉ báng chính quyền Nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân với mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cuối cùng nhưng không kém phần nguy hiểm là Đỗ Nam Trung ở Nam Định. Trung đã bị Tòa án Nhân dân tỉnh Nam Định tuyên phạt 10 năm tù giam, 04 năm quản chế vì đã có hành vi đăng tải các video có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền Nhân dân, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.

Hành vi của ba đối tượng nêu trên đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam, hùa theo những giá trị dân chủ, nhân quyền do các tổ chức phản động lưu vong, các thế lực thù địch chống phá Nhà nước Việt Nam với mục đích sâu xa là kích động người dân không còn tin vào chính quyền, chế độ, chia rẽ mối đoàn kết dân tộc, cuối cùng là để lật đổ chế độ, biến Việt Nam thành miếng mồi ngon cho ngoại bang chi phối, cắn xé. Hành vi của những đối tượng trên không thể coi là vì mục đích bảo vệ nhân quyền cho người dân Việt Nam như các thế lực thù địch, phản động tung hô được.

Như vậy, không cần biện giải, chúng ta đều rõ: cái gọi là Giải thưởng nhân quyền Việt Nam và tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đích thị là con cờ chính trị nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Hoạt động của chúng là núp bóng giá trị nhân quyền” trong mọi lĩnh vực để công khai ủng hộ, cổ súy số đối tượng chống đối trong nước hoạt động, khuếch trương thanh thế, thu hút tài trợ từ các thế lực thù địch chống Việt Nam ở bên ngoài. Do đó, cần phải lật tẩy lên án, đấu tranh bác bỏ cái gọi là “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” năm 2024 - một chiêu trò thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động./.

Nhận định “hàm hồ”

 

Nhận định “hàm hồ”

     – Trong thời gian gần đây, Nghị định 168/2024/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 168) về xử phạt vi phạm giao thông đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Ngày 14/01 có bài viết trên trang Facebook Việt Tân cho rằng nghị định này đang “tạo bức xúc, gây bất mãn trong người dân và có nguy cơ dẫn đến rối loạn xã hội”. Đây là những lập luận rất “hàm hồ”, thiếu cơ sở và không phản ánh đúng bản chất, mục tiêu của Nghị định 168, bởi:

Nghị định 168 góp phần nâng cao ý thức người dân. Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định 168 là răn đe và giáo dục người tham gia giao thông. Việc tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm, như: vượt đèn đỏ, lái xe khi đã uống rượu bia, không đội mũ bảo hiểm,... không chỉ là hình thức trừng phạt mà còn nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật lệ giao thông. Nhờ đó, ý thức của người dân dần được cải thiện, từ việc chấp hành nghiêm túc các quy định đến tự giác tôn trọng sự an toàn của mình và cộng đồng.

Góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Theo thống kê của Bộ Giao thông Vận tải, các quốc gia áp dụng mức xử phạt nghiêm khắc đối với vi phạm giao thông thường có tỷ lệ tai nạn giao thông thấp hơn so với các quốc gia không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả. Việc thực thi Nghị định 168 đã góp phần giảm số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, giảm thiểu thương vong và tổn thất kinh tế. Thực tế, ngày 14/01, đại diện Cục CSGT cho biết, trật tự an toàn giao thông đã có nhiều chuyển biến tích cực sau nửa tháng (từ ngày 01/01/2025 đến ngày 14/01/2025) thực hiện Nghị định 168; Tình hình TNGT cũng đã có chuyển biến rõ rệt, giảm cả 03 tiêu chí so với cùng kỳ và thời gian trước liền kề; toàn quốc xảy ra 681 vụ TNGT, làm 365 người chết, 453 người bị thương, so với cùng kỳ giảm 355 vụ (-34,27%), giảm 47 người chết (-11,41), giảm 426 người bị thương (-34,24%); so với thời gian trước liền kề giảm 347 vụ (-34,53%), giảm 94 người chết (-20,47%), giảm 301 người bị thương (-39,92%).

Hướng đến mục tiêu xây dựng văn hóa giao thông. Nghị định 168 không chỉ nhằm xử phạt mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng văn hóa giao thông lành mạnh, nơi mọi người đều hiểu rõ và tự giác chấp hành luật pháp. Một xã hội với ý thức giao thông tốt không chỉ giảm thiểu tổn thất về người và tài sản mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống.

Lợi ích lâu dài vượt xa bất tiện tạm thời. Cái mới khi áp dụng vào thực tế, sẽ tạo tâm lý phản ứng ban đầu trước thay đổi. Sự bức xúc hay bất mãn của một số người trước Nghị định 168 chủ yếu xuất phát từ việc chưa quen với những quy định nghiêm ngặt hoặc cảm thấy áp lực khi phải thay đổi thói quen giao thông cũ. Đây là một phản ứng tự nhiên của con người trước các biện pháp mới; nhưng tâm lý này chỉ mang tính tạm thời, cần thời gian để thích nghi. Người dân cần được tuyên truyền, giải thích để hiểu rằng, những biện pháp nghiêm khắc này không phải là “trừng phạt” mà là một phần của nỗ lực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Khi người dân hiểu rõ mục đích và lợi ích của Nghị định 168, họ sẽ dần chấp nhận và tuân thủ. Điều này đã được chứng minh ở nhiều quốc gia khác, nơi các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đã giúp cải thiện đáng kể ý thức chấp hành luật giao thông. Đó là sự giảm thiểu số vụ tai nạn giao thông – một vấn đề đã và đang gây tổn thất lớn cho xã hội, bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, cũng như xây dựng một văn hóa giao thông hiện đại, văn minh. Những lợi ích lâu dài mà nó mang lại cho xã hội là không thể phủ nhận.

Với các tác động thực tế trên, Nghị định 168 không gây rối loạn mà ngược lại, giúp xã hội trở nên trật tự hơn, tốt đẹp hơn. Ý kiến cho rằng Nghị định này gây “bức xúc, bất mãn” cho người dân nói chung và “rối loạn xã hội” là không có căn cứ; là ý kiến xuất phát chủ yếu từ một số cá nhân có tư tưởng thù địch hoặc “hàm hồ”, a dua theo các đối tượng thù địch./.

Những kẻ “có tật, giật mình”

 

Những kẻ “có tật, giật mình”

Ngày 09/11/2024, Chính phủ ban hành Nghị định 147/2024/NĐ-CP  về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; có hiệu lực thi hành từ ngày 25/12/2024. Theo Nghị định 147, phạm vi áp dụng sẽ bao gồm toàn bộ các tổ chức, cá nhân ở cả trong nước và nước ngoài có liên quan đến hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ trên Internet. Đây chính là hành lang pháp lý cho việc quản lý hoạt động của đại lý Internet, điểm truy nhập Internet công cộng và thiết lập cơ chế quản lý tên miền quốc gia “.vn”, nhằm bảo vệ an ninh mạng và đảm bảo tính minh bạch trên không gian mạng, v.v. Thế nhưng, nhiều phần tử cơ hội, chống phá với những lập luận vô căn cứ,… vu cáo Việt Nam xâm phạm quyền tự do ngôn luận. Luận điệu chúng rêu rao rằng: Nghị định 147 như là “công cụ đàn áp tự do ngôn luận”; Nhà nước Việt Nam “bịt miệng nhân dân”, vi phạm nhân quyền, v.v. Đây là những luận điệu chống phá hòng tẩy chay việc thực hiện Nghị định 147, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, cổ xúy cho những tư tưởng và hành động sai trái.

Thứ nhất, tự do ngôn luận đã được hiến định ngay trong Hiến pháp (năm 2013) của nước Việt Nam: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Còn theo quy định tại Điều 19, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối. Và, khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người.

Thứ hai, hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cung cấp thông tin, dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam có sử dụng dịch vụ cho thuê lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam, gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước. Các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng mạng xã hội để lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình, gây rối làm mất trật tự an toàn xã hội, mất ổn định chính trị nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Do vậy, việc ban hành Nghị định 147 sẽ tạo khung pháp lý quan trọng để yêu cầu các nền tảng mạng xã hội phối hợp hiệu quả với cơ quan chức năng; đồng thời, tôn trọng, tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, thực tiễn đã minh chứng: mạng xã hội là “mảnh đất mầu mỡ” cho nhiều đối tượng xấu lợi dụng để phát tán thông tin thất thiệt nhằm mục đích câu view, câu like, hoặc giả mạo tài khoản, đánh cắp thông tin để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khủng bố tinh thần, ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân, v.v. Phần lớn các đối tượng đều sử dụng thông tin giả để đăng nhập, lừa đảo nên việc truy vết gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong các vụ việc lừa đảo trực tuyến đang diễn ra tràn lan trên không gian mạng và có xu hướng gia tăng.

Vì thế, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 147 là cần thiết, nhằm xây dựng một môi trường lành mạnh, hữu ích để bảo vệ quyền con người, ngăn chặn những hành vi lệch chuẩn trên không gian mạng, gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này hoàn toàn phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, cũng như thực tiễn pháp lý ở nhiều quốc gia trên thế giới; hoàn toàn không phải là “công cụ đàn áp tự do ngôn luận” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động rêu rao. Chỉ những kẻ e ngại và phản đối Nghị định này là đang vi phạm pháp luật hoặc cố tình tiếp tay cho cái xấu, cái ác mới “có tật, giật mình”, nhân danh “quyền tự do ngôn luận” để che đậy những việc làm sai trái. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác và đấu tranh loại bỏ./.

 

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc Nghị định 168

 

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc Nghị định 168

        - Những ngày gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết, thông tin tiêu cực bình luận, chia sẻ khi Nghị định số 168/2024/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025. Điển hình, trang facebook Việt Tân ngày 15/01 đăng status: “Yêu cầu hủy ngay Nghị định 168 và truy cứu trách nhiệm kẻ chấp bút làm khổ dân, gây rối loạn xã hội” hay trang facebook Chân Trời Mới Media ngày 15/01 đăng status: “Nghị định 168: Điểm nghẽn từ trong óc mới phọt ra nghẽn mọi nẻo đường”, v.v. Đây đều là những giọng điệu xuyên tạc, chống đối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, trước khi ban hành một văn bản pháp luật bất kỳ, như: luật, nghị định, thông tư,... thì các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đều căn cứ những cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thể để soạn thảo, xin ý kiến của các cơ quan chức năng, thậm chí lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trước khi ban hành và áp dụng trong đời sống xã hội. Đối với Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, ngày 26/12/2024 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe không nằm ngoài những quy định chung đó.

Trên thực tế, đến nay sau khoảng nửa tháng thực hiện Nghị định số 168/2024/NĐ-CP đã tạo ra một sự chuyển biến lớn trong nhận thức của người dân và trên thực tiễn. Tình hình trật tự an toàn giao thông trên cả nước đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Tai nạn giao thông đã giảm cả 3 tiêu chí, ý thức chấp hành quy định về giao thông được nâng cao hơn trước. Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát giao thông, trong nửa tháng thực hiện Nghị định số 168/2024/NĐ-CP (từ ngày 01/01 đến ngày 14/01), lực lượng Cảnh sát giao thông toàn quốc đã phát hiện, xử lý 174.653 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, chứng chỉ chuyên môn 17.595 trường hợp; tạm giữ 955 ô tô, 49.649 mô tô; 12.691 trường hợp giấy phép lái xe bị trừ điểm. So với thời gian trước liền kề, xử phạt đã giảm 22.786 trường hợp (chiếm 11,54%). Cùng với đó, tình hình tai nạn giao thông đã có chuyển biến rõ rệt cả 3 tiêu chí so với cùng kỳ và thời gian trước liền kề. Cụ thể, toàn quốc xảy ra 681 vụ tai nạn giao thông, làm 365 người chết, 453 người bị thương, so với cùng kỳ giảm 355 vụ, giảm 47 người chết, giảm 426 người bị thương, so với trước liền kề giảm 347 vụ, giảm 94 người chết và giảm 301 người bị thương.

Tuy nhiên, đúng là vào dịp cuối năm âm lịch khi Tết nguyên đán Ất Tỵ đã cận kề thì tình hình giao thông tại các thành phố lớn, nhất là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang diễn biến phức tạp, xảy ra ùn tắc tại một số tuyến đường trung tâm. Song, phải khẳng định rằng: tình trạng ùn tắc giao thông xảy ra hiện nay có nhiều nguyên nhân, chứ không phải do triển khai thực hiện Nghị định số 168 như một số status, bình luận đã đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội. Bởi vì: Theo các chuyên gia, nhà khoa học thì tình trạng ùn tắc giao thông thường xảy ra tại các thành phố lớn. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa, tình trạng ùn tắc giao thông là điều không tránh khỏi. Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới, tại các thành phố lớn, đông dân đều xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông ở những mức độ khác nhau, tùy thuộc vào từng thời điểm, từng bối cảnh kinh tế xã hội. Ở nhiều quốc gia phát triển, hệ thống giao thông công cộng rất phát triển, hạ tầng giao thông tốt nhưng vẫn có những vụ tắc giao thông kéo dài nhiều giờ, thậm chí ở Trung Quốc còn có những vụ ùn tắc giao thông kéo dài trên đường cao tốc.

Bên cạnh đó, còn nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông, như: hạ tầng giao thông không đáp ứng được nhu cầu của người tham gia giao thông, xảy ra những vụ việc tai nạn giao thông, hỏng đèn tín hiệu hoặc do ý thức của người tham gia giao thông không tốt dẫn đến xung đột giao thông, xảy ra ùn tắc giao thông, v.v. Do đó, ùn tắc giao thông có nhiều nguyên nhân chứ không phải do thực hiện Nghị định số 168. Ở Việt Nam, những ngày cuối năm, số người tham gia giao thông tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, việc ách tắc giao thông ở các thành phố lớn dịp cận Tết là chuyện xảy ra từ rất nhiều năm nay và khá phổ biến, không kể khung giờ nào. Năm nay việc xảy ra ùn tắc giao thông đó âu cũng là chuyện hết sức bình thường, chứ không phải nguyên nhân từ Nghị định số 168.

 Thứ hai, Nghị định số 168/NĐ-CP gần như không có tác động gì đối với những người tham gia giao thông nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, không có hành vi vi phạm. Chỉ có những người có ý thức coi thường pháp luật, thường xuyên vượt đèn đỏ, lạng lách, đánh võng, không dừng đường cho xe ưu tiên, không tuân thủ đèn tín hiệu, không tuân thủ hiệu lệnh của người điều khiển phương tiện giao thông, đi xe trên vỉa hè, đi vào đường cấm,... thì mới thấy lo sợ vì họ thường xuyên vi phạm những lỗi này mà không bị xử lý hoặc bị xử lý với lỗi mức xử phạt rất thấp theo Nghị định số 100/NĐ-CP. Nên khi nghị định mới có hiệu lực tăng mức xử phạt, người dân không dám vi phạm nữa vì mức phạt nghiêm khắc nên tỏ ra ấm ức, khó chịu. Nếu người tham gia giao thông có ý thức tuân thủ, mức phạt dù cao hay thấp không tác động gì với họ cả.

Thứ ba, chỉ có một số người không có ý thức tuân thủ pháp luật, cố tình vi phạm cùng với đó là các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, các trang mạng xã hội phản động, như: facebook Việt Tân, Chân Trời Mới Media,... đã lợi dụng chính sách pháp luật mới để đưa ra những luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật, lợi dụng quá trình tổ chức thực hiện Nghị định số 168/NĐ-CP để đăng tải, bình luận, chia sẻ những thông tin tiêu cực, kích động chống đối pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, những hành động này cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh, bác bỏ./.

Bản án đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật

 

Bản án đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật

       – Ngày 15/01, trang facebook VOA Tiếng Việt đăng bài viết: “Hai cựu ĐBQH bị phạt 20 năm tù; giới quan sát đặt nghi vấn về công bằng tư pháp”, nhằm xuyên tạc bản chất vụ án, hạ thấp nền tư pháp Việt Nam.

Như thông tin, sáng ngày 13/01, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã mở phiên toà xét xử và tuyên án đối với bị cáo Lưu Bình Nhưỡng, Lê Thanh Vân và các đồng phạm về các tội danh “Cưỡng đoạt tài sản” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi”. Theo đó, Lưu Bình Nhưỡng bị tuyên phạt tổng 13 năm tù về hai tội là “Cưỡng đoạt tài sản” và ”Lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi”. Lê Thanh Vân bị tuyên phạt 07 năm tù vì tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi”. Bản án đối với Lưu Bình Nhưỡng, Lê Thanh Vân là hoàn toàn xứng đáng, là đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp luật và để răn đe với những trường hợp khác. Đây là vụ án nhận được sự quan tâm của dư luận khi họ được xem là có trình độ, nhận thức, có vị trí cao trong xã hội (Lưu Bình Nhưỡng, cựu Đại biểu Quốc hội, cựu Phó trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Lê Thanh Vân, cựu đại biểu Quốc hội, cựu Ủy viên thường trực Ủy ban Ngân sách Quốc hội) nhưng lại cố tình vi phạm pháp luật, trục lợi cá nhân, gây dư luận xấu và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Việc xét xử và có hình thức xử lý nghiêm minh với Lưu Bình Nhưỡng và Lê Thanh Vân là lời cảnh tỉnh cho những người đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi hay cưỡng đoạt tài sản và minh chứng cho việc điều tra, xét xử các hành vi vi phạm pháp luật theo hướng không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Điều đó cho thấy, trong hệ thống pháp luật Việt Nam công bằng là: “Sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong mọi quan hệ xã hội và thiết chế xã hội; mà cốt lõi là sự bình đẳng về thông tin, kinh tế, chính trị và pháp luật”. Thực hiện pháp luật công bằng được hiểu là tất cả mọi tổ chức, cá nhân đều phải thực hiện pháp luật (mọi người đều bình đẳng trước pháp luật), nhất là đối với nghĩa vụ pháp lý của mình; các chủ thể pháp luật không được vi phạm pháp luật, không ai được dựa vào quyền thế để vi phạm pháp luật; tất cả những ai có công lao, có thành tích đều được khen thưởng, và bất kỳ ai vi phạm pháp luật cũng bị trừng phạt theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự ăn năn, hối lỗi; đồng thời, mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Đây là bản án đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp, không có bất kỳ một sự hoài nghi nào xung quanh vụ án này. Vì vậy, luận điệu xuyên tạc lố bịch mà VOA Tiếng Việt rêu rao cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ./.